Bản án 103/2018/HSST ngày 16/04/2018 về tội mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐB, TỈNH ĐIỆN BIÊN

BẢN ÁN 103/2018/HSST NGÀY 16/04/2018 VỀ TỘI MUA BÁN VÀ TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 16/4/2018  tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện ĐB, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 99/2018/TLST- HS ngày 09/02/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 103/2018/QĐXXST-HS ngày 03/4/2018 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Văn S, tên gọi khác: Không, sinh năm: 1954, tại Thái B.

Trú tại: Đội 5B, xã TL, huyện ĐB, tỉnh Điện Biên. Nơi ĐKHKTT: Đội 5B, xã TL, huyện ĐB, tỉnh Điện Biên.

Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 5/10; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T ( đã chết) và bà: Nguyễn Thị X (đã chết); có vợ: Trần Thị M (đã ly hôn) và 05 con (đã chết 4 con), còn 01 con sinh năm 1981; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Bị cáo đã bị Tòa án xét xử 02 lần về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", nhưng đã được xóa án tích; bị bắt từ ngày 05/11/2017 "có mặt".

2. Họ và tên: Nguyễn Văn B, tên gọi khác: Không, sinh năm: 1987, tại Điện Biên. Chỗ ở: SN 30, tổ 14, phường MT, TPĐBP, tỉnh Điện Biên.

Nơi ĐKHKTT: Đội 6, xã Thanh H, huyện ĐB, tỉnh Điện Biên.

Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn A, sinh năm 1963 và bà: Hà Thị M, sinh năm 1967; có vợ: Lò Thị L, sinh năm 1993; tiền án: 01; tiền sự: Không; nhân thân: Bị cáo đã có án tích, chưa bị xử lý hành chính; bị bắt từ ngày 05/11/2017 "có mặt".

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 05/11/2017, bị cáo S đi đến khu vực đội 14, xã Thanh H, huyện ĐB với mục đích là mua ma túy về sử dụng và bán lẻ. Bị cáo gặp và mua được 01 gói Heroine với giá tiền là 250.000đ (hai trăm năm mươi nghìn đồng) của một người thanh niên, khoảng 25 tuổi, không biết tên và địa chỉ. Bị cáo về nhà, bị cáo lấy gói Heroine ra cấu một ít, số Heroine còn lại bị cáo gói lại như cũ rồi vào trong lọ nhựa và cất giấu ở gốc bụi chuối trong vườn. Số Heroine vừa cấu ra bị cáo tiếp tục cấu ra một ít để sử dụng, phần còn lại bị cáo cất vào túi quần đang mặc. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày thì có Nguyễn Văn B đi cùng với vợ là Lò Thị L đến nhà bị cáo và B hỏi mua Heroine với giá tiền là 100.000đ, bị cáo đồng ý và lấy 01cục Heroine ở túi quần đưa cho B. Khi B cầm gói Heroine đi ra bàn uống nước ngồi cùng với Lợi tại nhà của bị cáo S thì bị tổ công tác Công an huyện ĐB vào kiểm tra phát hiện, bắt quả tang cùng 01 cục Heroine mà bị cáo S vừa bán cho B và 100.000đ tiền bị cáo S vừa bán ma túy cho B (lúc đó khoảng 14 giờ). Hồi 15 giờ 20 phút cùng ngày, tổ công tác tiến hành kiểm tra đối với bị cáo S phát hiện thu giữ dưới gốc bụi chuối trong vườn của bị cáo 01 lọ nhựa bên trong có 01 gói Heroine.

Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng ngày 05/11/2017 đã xác định:

- Số chất bột màu trắng thu giữ của bị cáo S có khối lượng là 0,37 gam;

- Số chất bột màu trắng thu giữ của bị cáo B có khối lượng là 0,14 gam;

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản kết luận giám định số: 158 và 159/GĐ – PC54 ngày 17/12/2017, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận:

- Mẫu chất bột màu trắng được trích từ vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn Sgửi giám định là Heroine;

- Mẫu chất bột màu trắng được trích từ vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn Bgửi giám định là Heroine;

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng giám định nêu trên.

Tại bản cáo trạng số: 44/CT-VKS ngày 09/02/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐB đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194/BLHS năm 1999; Truy tố bị cáo Nguyễn Văn B về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện ĐB vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194/BLHS năm 1999, điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS năm 2015. Đề nghị xử phạt bịcáo Nguyễn Văn S từ 27 tháng đến 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Căn cứ Nghị quyết 41/2017/QH14; khoản 3 Điều 7/BLHS năm 2015; điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS năm 2015; điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS, điểm h khoản 1 Điều 52/BLHS năm 2015. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47/BLHS, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS về xử lý vật chứng.

Căn cứ Điều 136/BLTTHS và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện ĐB, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐB, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo.  Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

[2]. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội; đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Bởi vì, ma túy là một hiểm họa của nhân loại, đồng thời ma túy cũng là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm khác. Chính vì thế mà Nhà nước ta đã nghiêm cấm mọi hành vi có liên quan đến ma túy. Nếu bị phát hiện Nhà nước sẽ xử lý nghiêm khắc theo quy định của pháp luật. Các bị cáo nhận thức được tác hại của ma tuý, nhận thức được hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, song các bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Nên cần phải xử lý các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Hành vi cất giấu 0,51 gam Heroine, với mục đích để sử dụng và bán lẻ cho người khác của bị cáo S. Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐB đã truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194/BLHS năm1999 là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.

Hành vi mua 0,14 gam Heroine của bị cáo Nguyễn Văn B với mục đích đẻ sử dụng. Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐB đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS năm 2015 là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.

[3]. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo HĐXX thấy rằng: Do không có ý thức rèn luyện bản thân, các bị cáo đã nghiện ma túy, ngày 05/11/2017 các bị cáo phạm tội trong vụ án này và bị bắt cho đến nay.

Bị cáo S có nhân thân không tốt, đã bị Tòa án xét xử 02 lần trước đây và đã được xóa án tích.

Bị cáo B phạm tội trong khi chưa được xóa án tích, cho nên cần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52/BLHS năm 2015 là tái phạm đối với bị cáo.

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo đã thành khẩn khai báo; Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1Điều 51/BLHS năm 2015.

Để cải tạo các bị cáo trở  thành người có ích cho gia đình và xã hội, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian.

[4]. Ngoài hình phạt chính là phạt tù thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 194/BLHS năm 1999 và khoản 5 Điều249/BLHS năm 2015 là phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Nhưng xét thấy các bị cáo không có khả năng thi hành. Cho nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[5]. Còn đối với người thanh niên theo bị cáo S khai đã bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết tên và địa chỉ, nên CQĐT không xác minh làm rõ được.

[6]. Vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47/BLHS; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS năm 2015 tịch thu, tiêu hủy 0,51 gam Heroine, gửi giám định 0,18 gam (không hoàn lại mẫu vật sau khi giám định) và 01 lọ nhựa do không còn giá trị sử dụng; tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 100.0000đ do bị cáo S bán ma túy mà có.

[7]. Áp dụng Điều 136/BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: - Bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 194/Bộ luật hình sự năm 1999; điểm s khoản 1 Điều 51/Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết 41/2017/QH14 của Quốc hội, Điều 7/BLHS năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 27 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt ngày 05/11/2017.

Áp dụng: Nghị quyết 41/2017/QH14 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7/BLHS năm 2015; điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS, điểm h khoản 1 Điều 52/BLHS năm 2015; điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 24 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt ngày 05/11/2017.

3. Áp dụng: Điểm b, c khoản 1 Điều 47/BLHS, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106/Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu, tiêu hủy 0,51 gam Heroine, gửi giám định 0,18 gam (không hoàn lại mẫu vật sau khi giám định) và 01 lọ nhựa do không còn giá trị sử dụng; tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 100.0000đ do bị cáo S bán ma túy mà có.

(Vật chứng đã được công an huyện ĐB chuyển cho chi cục thi hành án dân sự huyện ĐB ngày 13/02/2018).

4. Án phí: Áp dụng Điều 136/BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.

5. Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15ngày, kể từ ngày tuyên án.


54
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về