Bản án 10/2021/HS-ST ngày 04/06/2021 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG YANG, TỈNH GIA LAI

BẢN ÁN 10/2021/HS-ST NGÀY 04/06/2021 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 04 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2021/TLST- HS ngày 22 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2021/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Toàn T Sinh ngày: 28/4/1966 tại huyện N, tỉnh Nghệ An.

Nơi ĐKHKTT: làng Đ, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai Chỗ ở hiện nay: thôn T, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai.

Nghề nghiệp: hưu trí; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; tôn giáo:

không; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N (đã chết) và bà Tôn Thị L (SN 1936); bị cáo có vợ và 03 con (lớn nhất SN 1995, nhỏ nhất SN 2005).

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 27/5/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã xóa án tích).

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/12/2020 đến ngày 27/01/2021. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Lê Thanh H – sinh năm: 1978 Trú tại: Thôn H, xã KD, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. (Vắng mặt có lý do)

- Ông Nguyễn Văn H – sinh năm: 1985 Trú tại: Tổ 2, thị trấn K, huyện M, tỉnh Gia Lai. (Vắng mặt có lý do)

- Ông Ar – sinh năm: 1973 Trú tại: Làng Đ, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai. (Vắng mặt có lý do)

- Bà Ngô Thị H – sinh năm: 1972 Trú tại: Thôn T, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 16 giờ 30 phút ngày 25/12/2020, Công an huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai tiến hành bắt quả tang Nguyễn Toàn T và Nguyễn Văn H đang có hành vi mua bán lô đề tại quán nước “T Chi” do Nguyễn Toàn T làm chủ. Thu giữ được số tiền 3.267.000 đồng và một điện thoại di động nhãn hiệu Vivo có phần tin nhắn “Thằng Chi” do Nguyễn Toàn T sử dụng dùng làm sổ tịch đề được lưu từ ngày 01/12/2020 đến ngày 25/12/2020.

Quá trình điều tra xác định: hằng ngày khi những người đến quán của T uống nước và có mục đích mua lô đề thì liên hệ với T, sau khi thỏa thuận con số cần đánh và số tiền cũng như chọn đài xổ số của các tỉnh miền Trung, gồm Công ty xổ số tỉnh Phú Yên, Đăk Lăk, Khánh Hòa, Bình Định, Gia Lai, Quảng Ngãi và Công ty xổ số kiến thiết miền Bắc thì người chơi đưa tiền cho T. Sau khi thỏa thuận xong thì T dùng điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu xanh, kiểu máy 1819, bên trong có gắn thẻ sim 1 số “0342883322”, thẻ sim 2 số “0772451666” của mình ghi nội dung và nhắn tin vào số điện thoại “0905014542” của chính mình được gắn trong một chiếc điện thoại di động khác nhãn hiệu Nokia, màu đen đã cũ, mục đích để theo dõi hằng ngày. Đối với những người biết số điện thoại của T thì có thể gọi điện hoặc nhắn tin cho T rồi sau đó T ghi các thông tin vào phần tin nhắn “Thắng Chi” để theo dõi. Để xác định kết quả thắng thua và chung tiền cho những người có số trúng thưởng thì Nguyễn Toàn T đối chiếu theo kết quả của các đài xổ số miền Trung mở thưởng vào lúc 17 giờ 15 phút và các đài xổ số miền Bắc mở thưởng vào lúc 18 giờ 15 phút hằng ngày.

Về hình thức đánh bạc bằng việc mua bán lô đề Nguyễn Toàn T quy định như sau:

Đối với người chơi mua số “đề”, “lô”, “ba càng” và “lô đá” các đài xổ số miền Trung thì được tính “lô” và “ba càng” với 01 điểm được tính là 13.000 đồng, đối với “lô đá” thì 01 điểm được tính là 26.000 đồng. Trong đó nếu thắng “đề”, “lô” thì tỉ lệ cá cược là 01 ăn 70 lần, còn “lô đá” và “ba càng” thì 01 ăn 500 lần. Đối với người chơi mua số “đề”, “lô”, “ba càng” đài xổ số miền Bắc nếu mua “lô” và “ba càng” với 01 điểm được tính là 23.000 đồng, đối với “lô đá” thì 01 điểm được tính là 46.000 đồng. Trong đó nếu thắng “đề”, “lô” thì ăn cược với tỉ lệ 1 ăn 80 lần, còn “lô đá” và “ba càng” thì 1 ăn 600 lần. Giữa T và người chơi không có ghi “phơi” cho nhau mà chỉ có một mình T ghi số lô, đề và số tiền vào mục “Thằng Chi” trên điện thoại di động của T để theo dõi của riêng mình tránh sự phát hiện của các cơ quan chức năng.

Căn cứ vào sổ tịch đề của Nguyễn Toàn T lưu trong điện thoại, kết quả mở thưởng của các đài xổ số kiến thiết miền Bắc và miền Trung, lời khai nhận của Nguyễn Toàn T thì xác định từ ngày 01/12/2020 đến ngày 25/12/2020 Nguyễn Toàn T đã thực hiện 08 lần đánh bạc trái phép bằng hình thức mua bán lô đề có số tiền sử dụng vào việc đánh bạc trên 5.000.000 đồng, cụ thể như sau:

- Lần thứ nhất: Ngày 02/12/2020 Nguyễn Toàn T sử dụng 5.265.000 đồng vào việc đánh bạc bằng hình thức mua bán lô đề của đài xổ số miền Bắc. Trong đó, số tiền T nhận được từ người chơi là 2.465.000 đồng, sau khi có kết quả mở thưởng người chơi đã trúng số “23” bao lô được 35 điểm x 80 lần, T đã chung số tiền 2.800.000 đồng cho người chơi. Nguyễn Toàn T đã bị thua số tiền 335.000 đồng.

- Lần thứ hai: Ngày 03/12/2020 T sử dụng 7.215.000 đồng vào việc đánh bạc bằng hình thức mua bán lô đề của đài xổ số miền Bắc là. Trong đó số tiền T nhận được từ người chơi là 2.415.000 đồng, sau khi có kết quả mở thưởng người chơi đã trúng số “76” bao lô được 10 điểm, số “97” được 25 điểm, tổng cộng 35 điểm x 80 lần, T đã chung số tiền 4.800.000 đồng cho người chơi. Nguyễn Toàn T đã bị thua số tiền 2.385.000 đồng.

- Lần thứ ba: Ngày 04/12/2020 T sử dụng 16.758.000 đồng vào việc đánh bạc bằng hình thức mua bán lô đề của đài xổ số Gia Lai. Trong đó, số tiền T nhận được từ người chơi là 1.078.000 đồng, sau khi có kết quả mở thưởng người chơi đã trúng số “81” bao lô được 09 điểm, số “08” bao lô được 15 điểm, tổng cộng 24 điểm x 70 lần, trúng đề giải tám số “08” được 200.000đ x 70 lần, T đã chung số tiền 15.680.000 đồng cho người chơi. Nguyễn Toàn T đã bị thua số tiền 14.602.000 đồng.

- Lần thứ tư: Ngày 06/12/2020 T sử dụng 7.580.000 đồng vào việc đánh bạc bằng hình thức mua bán lô đề của đài xổ số miền Bắc. Trong đó, số tiền T nhận được từ người chơi là 2.780.000 đồng, sau khi có kết quả mở thưởng người chơi đã trúng số “89” bao lô được 60 điểm x 80 lần, T đã chung số tiền 4.800.000 đồng cho người chơi. Nguyễn Toàn T đã bị thua số tiền 2.020.000 đồng.

- Lần thứ năm: Ngày 08/12/2020 T sử dụng 6.240.000 đồng vào việc đánh bạc bằng hình thức mua bán lô đề của đài xổ số miền Bắc. Trong đó, số tiền T nhận được từ người chơi là 1.840.000 đồng, sau khi có kết quả mở thưởng đã trúng các số “92” bao lô được 50 điểm, lô số “85” bao lô được 5 điểm, tổng cộng trúng 55 điểm x 80 lần, T đã chung số tiền 4.400.000 đồng cho người chơi. Nguyễn Toàn T đã bị thua số tiền 2.560.000 đồng.

- Lần thứ sáu: Ngày 09/12/2020 T sử dụng 5.790.000đ đồng vào việc đánh bạc bằng hình thức mua bán lô đề của đài xổ số miền Bắc. Trong đó, số tiền T nhận được từ người chơi là 1.790.000 đồng, sau khi có kết quả mở thưởng đã trúng các số “55” bao lô được 25 điểm, nhưng ra 02 lô số “55” nên thành 50 điểm x 80 lần, T đã chung số tiền 4.000.000 đồng cho người chơi. Nguyễn Toàn T đã bị thua số tiền 2.210.000 đồng.

- Lần thứ bảy: Ngày 10/12/2020 T sử dụng 5.315.000 đồng vào việc đánh bạc bằng hình thức mua bán lô đề của đài xổ số miền Bắc. Trong đó, số tiền T nhận được từ người chơi là 3.715.000 đồng, sau khi có kết quả mở thưởng đã trúng các số “87” bao lô được 10 điểm, lô số “94” bao lô được 10 điểm, tổng cộng 20 điểm x 80 lần, T đã chung số tiền 1.600.000 đồng cho người chơi. Số tiền thu lợi bất chính là: 2.115.000 đồng.

- Lần thứ tám: Ngày 11/12/2020 T sử dụng 5.405.000 đồng vào việc đánh bạc bằng hình thức mua bán lô đề của đài xổ số miền Bắc. Trong đó, số tiền T nhận được từ người chơi là 4.205.000 đồng, sau khi có kết quả mở thưởng đã trúng các số “03” bao lô được 15 điểm x 80 lần, T đã chung số tiền 1.200.000 đồng cho người chơi. Số tiền T thu lợi bất chính là: 3.005.000 đồng.

Tất cả các lần đánh bạc trên sau khi có kết quả mở thưởng thì giữa T và người chơi đã thanh toán số tiền thắng, thua cho nhau.

Như vậy, tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc và thu lợi bất chính trong 08 lần đánh bạc nêu trên cụ thể như sau:

Tổng số tiền Nguyễn Toàn T bán được tại đài xổ số miền Bắc là 19.210.000 đồng nhưng đã chung cho người chơi thắng ở đài miền Bắc là 23.600.000 đồng, Nguyễn Toàn T bị thua số tiền 4.390.000 đồng.

Tổng số tiền Nguyễn Toàn T bán được tại đài xổ số miền Trung là 1.078.000 đồng nhưng đã chung cho người chơi thắng ở đài miền Trung số tiền là 15.680.000 đồng, Nguyễn Toàn T bị thua số tiền 14.602.000 đồng.

Nguyễn Toàn T bị thua tổng cộng số tiền là 18.992.000 đồng. Do đó, Nguyễn Toàn T chưa thu lợi bất chính số tiền của những người tham gia đánh bạc.

Đối với các ngày còn lại trong thời gian từ ngày 01/12/2020 đến 25/12/2020 số tiền T sử dụng vào việc đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nên không đủ định lượng xử lý về mặt hình sự.

Quá trình điều tra xác định được 03 đối tượng có hành vi mua lô đề của Nguyễn Toàn T gồm: Ar , Lê Thanh H và Nguyễn Văn H nhưng số tiền của các đối tượng thực hiện hành vi đánh bạc chưa đủ 5.000.000 đồng và chưa có tiền án, tiền sự liên quan đến hành vi đánh bạc và tổ chức đánh bạc theo quy định tại Điều 321 và 322 Bộ luật hình sự, do đó Cơ quan CSĐT - Công an huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai đã ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức “Phạt tiền” đối với Ar, Lê Thanh H và Nguyễn Văn H theo điểm a khoản 1 Điều 26 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ mỗi người số tiền 350.000 đồng.

Đối với người thanh niên mà Nguyễn Toàn T khai không biết lai lịch, địa chỉ, chỉ biết làm nghề rửa xe tại thôn Hà Lòng I, xã Kdang, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai, trong các ngày 02/12/2020 và 03/12/2020 có tham gia mua bán lô đề với T, ngày 14/01/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Yang đã trích xuất bị cáo T để tiến hành xác minh nhưng không xác định được người này, khi nào xác định được đối tượng sẽ tiến hành xử lý theo quy định của pháp luật.

Nhng người khác tham gia mua bán lô đề với Nguyễn Toàn T trong tất cả các lần đánh bạc trên là khách vãng lai đến quán uống nước sau đó mới tiến hành ghi lô đề với T nên T không rõ lai lịch, địa chỉ những người này nên chưa xác định được. Ngày 12/01/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Yang đã có thông báo truy tìm, khi nào xác định được các đối tượng sẽ tiến hành xử lý theo quy định của pháp luật.

* Về vật chứng vụ án đã thu giữ:

+ Tiền Việt Nam đồng: 3.267.000 đồng (ba triệu hai trăm sáu mươi bảy nghìn đồng).

+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, đã qua sử dụng.

Tại Cáo trạng số 07/CT-VKS ngày 19 tháng 3 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Nguyễn Toàn T về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Đánh bạc” và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm s, v khoản 1 Điều 51 ; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo T từ 09 đến 12 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án nhưng được trừ thời hạn tạm giữ tạm giam từ ngày 25/12/2020 đến ngày 27/01/2021.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự, đề nghị phạt tiền bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng:

- Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo (đã qua sử dụng) kèm sim số mà bị cáo sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội và số tiền 793.000 đồng mà bị cáo mua bán lô đề có được trong ngày 25/12/2020.

- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị trả lại số tiền 370.000 đồng cho ông Nguyễn Văn H.

- Đối với số tiền 2.104.000 đồng là tiền của Nguyễn Toàn T bán hàng có được, không phải do phạm tội mà có nên trả lại cho bị cáo, nhưng cần tiếp tục tạm giữ số tiền này để đảm bảo thi hành án phần nghĩa vụ của bị cáo.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Ý kiến của bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình cũng như thống nhất với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Điều tra viên Công an huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, vì vậy có đủ cơ sở xác định: Trong khoảng thời gian từ ngày 01/12/2020 đến ngày 25/12/2020, bị cáo Nguyễn Toàn T đã 08 lần thực hiện hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức mua bán lô đề với số tiền mỗi lần trên 5.000.000 đồng. Vì vậy cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Tính chất, mức độ phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộngnếp sống văn minh của cộng đồng, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã 08 lần thực hiện hành vi đánh bạc nên phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải, đó là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, trong quá trình công tác trong quân đội, bị cáo đã có nhiều thành tích và được tặng thưởng Huy chương vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Về nhân thân: Bị cáo đã từng bị Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999 vào ngày 27/5/2016. Mặc dù bị cáo đã được xóa án tích, không tính là tiền án tuy nhiên điều đó cũng thể hiện thái độ xem thường pháp luật của bị cáo.

[7] Về hình phạt: Bị cáo vi phạm pháp luật hình sự nên phải chịu hình phạt theo quy định của pháp luật. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng mức hình phạt tù đối với bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.

[8] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội với mục đích thắng thua bằng tiền nhằm thu lợi bất chính, vì vậy ngoài việc áp dụng hình phạt chính Kiểm sát viên đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự, phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục là phù hợp.

[9] Đối với bà Nguyễn Thị H là vợ của bị cáo, trong quá trình bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán lô đề, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Yang đã xác định bị cáo không có sự trao đổi, bàn bạc với bà Hợi, bà Hợi không tham gia vào việc đánh bạc với bị cáo, nên không xem xét xử lý đối với bà Ngô Thị H là phù hợp.

[10] Đối với ba đối tượng có hành vi mua bán lô đề với bị cáo là ông Lê Thanh H, ông Nguyễn Văn H, ông Ar, số tiền các đối tượng thực hiện hành vi đánh bạc không đủ mức cấu thành tội phạm và những người này chưa có tiền án, tiền sự liên quan đến hành vi đánh bạc và tổ chức đánh bạc, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai đã ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức “Phạt tiền” đối với những người này là phù hợp.

[11] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo là phương tiện bị cáo dùng đánh bạc nên tịch thu sung ngân sách nhà nước Đối với số tiền 3.267.000 đồng (Ba triệu hai trăm sáu mươi bảy nghìn đồng) thu giữ của bị cáo T, trong đó có 793.000 đồng là tiền bị cáo đánh bạc với ông Nguyễn Văn Hợp nên tịch thu sung ngân sách nhà nước; số tiền 370.000 đồng của ông Nguyễn Văn Hợp không dùng để đánh bạc nên trả lại cho ông Hợp; số tiền 2.104.000 đồng là tiền của bị cáo T bán hàng có được nên trả lại cho bị cáo T, nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành phần nghĩa vụ của bị cáo T.

[12] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tội danh và hình phạt: Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điều 38; điểm s, v khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 2 Điều 52 của Bộ luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Toàn T phạm tội “Đánh bạc ”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Toàn T 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời hạn tạm giữ tạm giam từ ngày 25/12/2020 đến ngày 27/01/2021.

Hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Toàn T số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 793.000 đồng (Bảy trăm chín mươi ba nghìn đồng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo (đã qua sử dụng) kèm sim số.

- Trả lại cho ông Nguyễn Văn H số tiền 370.000 đồng (Ba trăm bảy mươi nghìn đồng).

- Tạm giữ số tiền 2.104.000 đồng (Hai triệu một trăm lẻ bốn nghìn đồng) để đảm bảo thi hành án.

(Đặc điểm vật chứng cụ thể theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24 tháng 3 năm 2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Yang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Yang).

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Buộc bị cáo Nguyễn Toàn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

5. Thời hạn kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (04/6/2021) bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Đối với người vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.


17
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về