Bản án 10/2020/HNGĐ-ST ngày 31/08/2020 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA

BẢN ÁN 10/2020/HNGĐ-ST NGÀY 31/08/2020 VỀ LY HÔN

Ngày 31 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 148/2020/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2020, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2020/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Lê Phùng C - sinh năm: 1966; Địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

* Bị đơn: Bà Võ Thị Đức T - sinh năm: 1968; Địa chỉ: Thôn Q, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Trong đơn khởi kiện đề ngày 13/3/2020 gửi đến Tòa án ngày 05/5/2020, bản tự khai và biên bản lấy lời khai ngày 16/6/2020, các lời khai tiếp theo và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Lê Phùng C trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Phùng C và bà Võ Thị Đức T cưới nhau năm 1993 và có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên bà T nộp đơn đến Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh yêu cầu ly hôn. Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh ra Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 20/2015/QĐST-HNGĐ ngày 25/3/2015 giữa nguyên đơn bà Võ Thị Đức T và bị đơn ông Lê Phùng C. Đến năm 2018 ông Lê Phùng C và bà Võ Thị Đức  T quay về lại chung sống với nhau và có tự nguyện đăng ký kết hôn số 51, ngày 01 tháng 6 năm 2018 tại Ủy ban nhân dân xã Vạn Lương, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.

Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng sống bình thường, đến năm 2019 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, mâu thuẫn vợ chồng kéo dài và ngày càng gay gắt cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do tính tình không hợp, thường xuyên kình cải, bất đồng quan điểm sống, hai vợ chồng không tin tưởng, tôn trọng lẫn nhau và bà T đã bỏ về nhà cha mẹ đẻ của bà T tại thôn Q, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa sinh sống cho đến nay.

Vợ chồng đã không sống chung với nhau từ năm 2019 cho đến nay, không ai quan tâm, chăm sóc cho ai. Nay ông Lê Phùng C thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẩn vợ chồng đã trầm trọng.

Ông Lê Phùng C yêu cầu Tòa án giải quyết: Cho ông Lê Phùng C được ly hôn với bà Võ Thị Đức T.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 (hai) con chung là Lê Võ T - sinh năm 1994 và Lê Võ Đ - sinh năm 1994. Hiện nay, các con chung đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ đối với bị đơn là bà Võ Thị Đức T để trình bày ý kiến về việc ông Lê Phùng C khởi kiện, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng bà T đều không có mặt nên Toà án không lấy được lời khai của bà T, không tiến hành hòa giải được. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay, bà T có mặt và trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Đức T và ông Lê Phùng C cưới nhau năm 1993 và có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên bà T nộp đơn đến Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh yêu cầu ly hôn. Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh ra Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 20/2015/QĐST-HNGĐ ngày 25/3/2015 giữa nguyên đơn bà Võ Thị Đức T và bị đơn ông Lê Phùng C. Đến năm 2018 ông Lê Phùng C và bà Võ Thị Đức T quay về lại chung sống với nhau và có tự nguyện đăng ký kết hôn số 51, ngày 01 tháng 6 năm 2018 tại Ủy ban nhân dân xã Vạn Lương, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.

Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng sống bình thường, đến năm 2019 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, mâu thuẫn vợ chồng kéo dài và ngày càng gay gắt cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do tính tình không hợp, thường xuyên kình cải, bất đồng quan điểm sống, hai vợ chồng không tin tưởng, tôn trọng lẫn nhau và bà T đã bỏ về nhà cha mẹ đẻ của bà T tại thôn Q, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa sinh sống cho đến nay.

 Vợ chồng đã không sống chung với nhau từ năm 2019 cho đến nay, không ai quan tâm, chăm sóc cho ai. Nay ông Lê Phùng C nộp đơn đến Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh yêu cầu ly hôn với bà Võ Thị Đức T, nhưng bà T thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn và mâu thuẫn vợ chồng chưa đến mức trầm trọng nên không đồng ý ly hôn với ông Lê Phùng C.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 (hai) con chung là Lê Võ T - sinh năm 1994 và Lê Võ Đ - sinh năm 1994. Hiện nay, các con chung đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, để giải quyết sau.

- Về nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh phát biểu ý kiến như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán đã thực hiện đúng nội dung quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm; nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Tòa án chấp nhận các yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Lê Phùng C yêu cầu ly hôn với bà Võ Thị Đức T, Bà T có hộ khẩu thường trú tại thôn Q, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa; nên căn cứ theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án hôn nhân gia đình tranh chấp về ly hôn và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Phùng C và bà Võ Thị Đức T kết hôn tự nguyện, đủ điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn ngày 01 tháng 6 năm 2018 tại Ủy ban nhân dân xã Vạn Lương, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa theo giấy chứng nhận kết hôn số 51 nên quan hệ hôn nhân giữa ông C và bà T là hợp pháp.

-Tại phiên tòa:

+ Nguyên đơn ông Lê Phùng C vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với Bà Võ Thị Đức T.

+ Bị đơn bà Võ Thị Đức T không đồng ý ly hôn với ông Lê Phùng C.

Xét thấy: Lời khai của ông C, bà T thì thực tế vợ chồng đã có xảy ra mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn nhưng ông C, bà T không tìm ra được giải pháp nào để tiếp tục sống chung với nhau nữa. Từ năm 2019 cho đến nay, ông C, bà T đã mạnh ai nấy sống, không ai còn quan tâm, chăm sóc đến ai. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa ông bà đã thực sự gay gắt, nhưng không bên nào đưa ra được giải pháp hợp lý để giải quyết những bất đồng giữa hai bên. Nên có cơ sở để xác định tình trạng hôn nhân giữa ông C, bà T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử không chấp nhận  yêu cầu của bà T được đoàn tụ mà chấp nhận yêu cầu của ông C cho ông C được ly hôn với bà Võ Thị Đức T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Ông C và bà T thống nhất xác nhận vợ chồng có 02 (hai) con chung có 02 (hai) con chung là Lê Võ T - sinh năm 1994 và Lê Võ Đ - sinh năm 1994. Hiện nay, các con chung đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về nợ chung: Ông Lê Phùng C và bà Võ Thị Đức T thống nhất xác nhận vợ chồng không nợ chung của ai, không ai nợ chung của vợ chồng.

[6] Về án phí: Ông Lê Phùng C phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật với số tiền là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự:

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Phùng C được ly hôn bà Võ Thị Đức T.

2. Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Vợ chồng có 02 (hai) con chung là Lê Võ T - sinh năm 1994 và Lê Võ Đ - sinh năm 1994. Hiện nay, các con chung đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4 Về án phí: Ông Lê Phùng C phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0003158 ngày 18 tháng 5 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vạn Ninh; ông C đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà xét xử phúc thẩm.


30
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 10/2020/HNGĐ-ST ngày 31/08/2020 về ly hôn

Số hiệu:10/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Vạn Ninh - Khánh Hoà
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:31/08/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về