Bản án 10/2020/HNGĐ-ST ngày 15/01/2020 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 10/2020/HNGĐ-ST NGÀY 15/01/2020 VỀ LY HÔN

Ngày 15 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 54/2019/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2019 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4888/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 5041/2019/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị A, sinh năm 1974; nơi cư trú: Thôn B, xã C, huyện D, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Anh Sugai Hideyuki, sinh năm 1960; nơi cư trú: Nhật Bản; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn nộp ngày 06-3-2019 và các văn bản khác, nguyên đơn là chị Bùi Thị A trình bày:

Chị A và anh Sugai Hideyuki kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện D, thành phố Hải Phòng ngày 03-8-2018. Sau khi kết hôn, anh Sugai Hideyuki quay trở lại Nhật Bản để thực hiện thủ tục bảo lãnh cho chị A nhưng không được cơ quan có thẩm quyền chấp nhận do điều kiện kinh tế không đảm bảo. Kể từ tháng 02 năm 2019 cho đến nay, chị A không còn liên lạc được với anh anh Sugai Hideyuki. Nay nhận thấy vợ chồng không cùng chung sống, tình cảm vợ chồng không còn, không còn cơ hội đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị A yêu cầu được ly hôn với anh Sugai Hideyuki để ổn định cuộc sống.

Về quan hệ con chung và tài sản chung: Chị A trình bày quá trình chung sống không có con chung và tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Chị A giữ nguyên lời trình bày tại bản tự khai và đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Sugai Hideyuki; không yêu cầu giải quyết về con chung và tài sản chung.

Tại phiên tòa, anh Sugai Hideyuki vắng mặt do việc ủy thác tư pháp không thực hiện được.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành và thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của đương sự quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành và thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của đương sự quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Mâu thuẫn giữa chị A và anh Sugai Hideyuki đã sâu sắc. Căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị A, xử cho chị A được ly hôn với anh Sugai Hideyuki; chị A không yêu cầu về con chung và tài sản chung nên không đặt vấn đề giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

[1] Quan hệ tranh chấp của vụ án về việc ly hôn quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Anh Sugai Hideyuki vắng mặt tại phiên tòa. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành ủy thác tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài để tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án, thông báo việc Tòa án đang giải quyết yêu cầu xin ly hôn giữa chị A và anh Sugai Hideyuki; đồng thời đề nghị anh Sugai Hideyuki cho biết quan điểm về yêu cầu xin ly hôn của chị A. Ngày 06-6-2019, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng nhận được Công văn số 1313/CH-BTP của Bộ Tư pháp Việt Nam về việc đã chuyển hồ sơ ủy thác tư pháp cho Bộ Ngoại giao Nhật Bản để thực hiện việc ủy thác và gửi lại kết quả cho Bộ Tư pháp Việt Nam. Ngày 09-9- 2019, Tòa án tiếp tục nhận được văn bản số 2814/BTP-PLQT của của Bộ Tư pháp Việt Nam cho biết, Cơ quan có thẩm quyền của Nhật Bản không thực hiện được uỷ thác tư pháp do phần họ tên và địa chỉ của người nhận không hoàn chỉnh. Sau khi nhận được văn bản này, ngày 10-9-2019, Tòa án đã có văn bản gửi Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản và Ban biên tập Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đề nghị đăng tải thông báo của Tòa án cho anh Sugai Hideyuki biết về thời gian mở phiên họp hòa giải, thời gian mở phiên tòa xét xử. Ngày 31-10-2019, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng nhận được Biên bản ngày 21-10-2019 của Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản về việc đã gửi thông báo cho anh Sugai Hideyuki nhưng bưu điện trả lại do không có người nhận. Đến nay, đã hết thời hạn một tháng kể từ ngày đăng thông báo nhưng anh Sugai Hideyuki không có mặt tại phiên tòa. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt anh Sugai Hideyuki theo quy định tại điểm c khoản 6 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về yêu cầu của đương sự:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị A và anh Sugai Hideyuki kết hôn do tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện D, thành phố Hải Phòng ngày 03-8-2018 nên là hôn nhân hợp pháp. Do anh Sugai Hideyuki không thực hiện được việc bảo lãnh cho chị A sang Nhật Bản sinh sống nên vợ chồng không có cơ hội đoàn tụ. Do không cùng chung sống, mỗi người ở một quốc gia khác nhau nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, dẫn đến việc hai bên không còn liên lạc, quan tâm đến nhau. Nay nhận thấy không thể tiếp tục duy trì mối quan hệ vợ chồng nên chị A yêu cầu được ly hôn để ổn định cuộc sống, Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu của chị A phù hợp với tình trạng gia đình, mối quan hệ giữa hai bên, phù hợp với quy định tại Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên chấp nhận.

[4] Về quan hệ nuôi con chung và quan hệ tài sản chung: Chị A xác nhận không có, không yêu cầu nên không đặt ra vấn đề giải quyết.

- Về án phí sơ thẩm và chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài:

[5] Chị A phải chịu án phí ly hôn và chi phí tố tụng ủy thác tư pháp ra nước ngoài theo quy định pháp luật - Điều 146, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 153 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào Điều 146, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 153 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị A.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị A được ly hôn với anh Sugai Hideyuki.

2. Về quan hệ nuôi con chung và quan hệ tài sản chung: Chị Bùi Thị A không yêu cầu nên không đặt ra vấn đề giải quyết.

3. Về án phí sơ thẩm và chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài:

- Chị Bùi Thị A phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đông (Ba trăm nghin đông) được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đông theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án sô 0001708 ngày 15-3-2019 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.

- Chị Bùi Thị A phải chịu tiền chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài được khấu trừ vào số tiền tạm ứng chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài là 200.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí , lệ phí Toà án số 0001709 ngày 15-3-2019 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.

Chị Bùi Thị A đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm và chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài.

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, chị Bùi Thị A có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Trong thơi han một tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật, anh Sugai Hideyuki có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.


48
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về