Bản án 10/2019/HSST ngày 28/02/2019 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH

BẢN ÁN 10/2019/HSST NGÀY 28/02/2019 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 28 tháng 02 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2019/TLST-HS ngày 28 tháng 01 năm 2019 và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2019/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ tên: Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 10/6/1973; tại huyện H, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Tổ 6, phường N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Đại lý bán vé xổ số; Trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị T (đã chết); có chồng Vũ Văn N (đã chết); có 03 con; tiền án, tiền sự: Không. Ngày 06/3/2013 bị Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình xử phạt 7.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”, đã chấp hành xong; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 07 ngày 28 tháng 01 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp. (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan liên quan đến vụ án:

+ Anh Mai Văn T, sinh năm 1990; địa chỉ: Xóm Đ, thôn B, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. (Vắng mặt)

+ Anh Mai Văn Th, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn 1, xã Q, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt).

+ Bà Trương Thi T, sinh năm 1969; địa chỉ: Tổ 7, phường N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình. (Vắng mặt).

- Người chứng kiến: Ông Phạm Ngọc H, sinh năm 1963. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Thị Thu H là đại lý bán xổ số lô tô cho công ty TNHH một thành viên xổ số kiến thiết Ninh Bình, lợi dụng việc bán xổ số, H nhận ghi số lô, số đề cho nhiều người với tỷ lệ Th, thua đề ghi 1.000 đồng, nếu trúng được 70.000 đồng; lô ghi 01 điểm là 23.000 đồng, nếu trúng được 80.000 đồng. Khoảng 17 giờ 50 phút, ngày 26/11/2018, tại khu vực tổ 8, phường Nam Sơn, thành phố Tam Điệp, có hai người thanh niên là Mai Văn T và Mai Văn Th có đến hỏi H để mua số lô, số đề. Bị cáo H bán cho Mai Văn T 02 số lô 39, 05 mỗi số 50 điểm, tổng tiền là 2.300.000 đồng; bán cho Mai Văn Th 03 số lô 98, 23 mỗi số 50 điểm, số lô 11 ghi 30 điểm và ghi 03 số đề 98, 23, 11 mỗi số ghi 20.000 đồng, tổng số tiền Th mua là 3.050.000 đồng. Bị cáo ghi các số lô, số đề vào 02 tờ vé lô tô đã qua sử dụng để làm cáp lô, đề đưa cho T và Th, rồi nhận tiền từ T và Th với tổng số tiền là 5.350.000 đồng. Khi bị cáo H đang nhận tiền thì bị Công an thành phố Tam Điệp phát hiện bắt quả tang. Tại chỗ, Công an thu giữ 02 tờ vé lô tô đã qua sử dụng, mặt sau ghi các số lô, số đề đã bán cho T và Th; 01 tờ lịch in ngày 18/11/2018; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu trắng, bên trong có lắp sim số thuê bao 0979.057.106; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung màu đen, hồng, bên trong có lắp sim số thuê bao 0972.674.257; 01 máy tính casio; 01 bút bi vỏ màu xanh, mực màu xanh; số tiền 19.291.000 đồng (trong đó có 5.350.000 đồng là tiền bị cáo H đã bán số lô, số đề cho T và Th; 1.991.000 đồng là tiền bị cáo H đã bán số lô, số đề cho khách đi đường không xác định được tên tuổi, địa chỉ; 370.000 đồng là tiền bị cáo H đã chuyển vào vé lô tô, xổ số nhà nước; 11.580.000 đồng là tiền cá nhân của bị cáo H không liên quan đến hành vi phạm tội).

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Thu H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp đã truy tố và nói lời sau cùng xin được giảm nhẹ hình phạt.

Trong quá trình điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Mai Văn T và anh Mai Văn Th trình bày: Khoảng 17 giờ 50 phút, ngày 26/11/2018 đã có hành vi mua số lô, số đề của bị cáo Nguyễn Thị Thu H. Mai Văn T mua 02 số lô 39, 05 mỗi số 50 điểm, tổng tiền là 2.300.000 đồng; Mai Văn Th mua các số lô 98, 23 mỗi số 50 điểm, số lô 11 ghi 30 điểm và mua 03 số đề là 98, 23, 11 mỗi số 20.000 đồng với tổng số tiền là 3.050.000 đồng. Sau đó, bị cáo H đã ghi các số lô, số đề mà T và Th đã mua vào mặt sau của 02 tờ vé lô tô đã qua sử dụng rồi đưa cho T và Th, đồng thời T và Th giao tiền cho bị cáo H. Khi đang giao tiền thì bị Công an thành phố Tam Điệp phát hiện bắt quả tang. Tại chỗ, Công an thu giữ 02 tờ vé số của T và Th; 01 chiếc bút bi màu xanh, mực màu xanh; 01 tờ lịch ghi ngày 18/11/2018; 01 máy tính casio; 02 điện thoại di động của Nguyễn Thị Thu H; số tiền 19.291.000 đồng.

Người liên quan bà Trương Thi T khai nhận: Qua quen biết xã hội nên có quen biết với bị cáo Nguyễn Thị Thu H và có thống nhất nhận tin nhắn mua bán số lô, số đề với bị cáo H. Hằng ngày, bị cáo H sẽ chuyển các số lô, số đề đã bán cho khách cho bà T thông qua tin nhắn điện thoại chậm nhất vào 18 giờ 15 phút. Sau đó, thì hai người sẽ thanh toán tiền cho nhau sau. Sau mỗi ngày, cả hai đều tiêu hủy hết toàn bộ các tài liệu liên quan đến việc mua bán số lô, số đề giữa bị cáo và bà T. Ngày 26/11/2018, bị cáo H chưa chuyển số lô, số đề thì đã bị Công an phát hiện bắt quả tang. Do đó, ngày 26/11/2018 giữa bà Tuyết và bị cáo H không có giao dịch mua bán số lô, số đề nào.

Tại bản cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 28 tháng 01 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thu H về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại điện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu H phạm tội “Đánh bạc” và đề nghị: Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu H 06 đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng. Giao bị cáo cho UBND phường Nam Sơn quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Thị Thu H từ 10 đến 12 triệu.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc bút bi vỏ màu xanh, mực màu xanh;

- Tịch thu nộp ngân sách số tiền 7.341.000 đồng là tiền bị cáo Nguyễn Thị Thu H đã bán số lô, số đề cho Mai Văn T và Mai Văn Th và người qua đường không xác định được tên, địa chỉ; 01 máy tính casio đã qua sử dụng.

- Hoàn trả lại cho bị cáo 370.000 đồng tiền bị cáo H đã vào vé lô tô, xổ số nhà nước và số tiền 11.580.000 đồng là tiền cá nhân không liên quan đến hành vi phạm tội (Số tiền đã chuyển đến tài khoản tạm gửi của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp); 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia vỏ màu trắng bên trong có lắp sim 0979.057.106.

Trong quá trình điều tra người chứng kiến khai nhận: Ngày 26/11/2018, ông được Công an mời ra để chứng kiến việc Công an lập biên bản phạm tội quả tang đối với hành vi đánh bạc của Nguyễn Thị Thu H, diễn biến sự việc đúng như cáo trạng đã nêu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tam Điệp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, lời khai của người chứng kiến. Hành vi của bị cáo còn được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang, tang vật, các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đầy đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 50 phút, ngày 26/11/2018, tại khu vực tổ 8, phường Nam Sơn, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình, bị cáo Nguyễn Thị Thu H đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề cho Mai Văn T và Mai Văn Th với tổng số tiền 5.350.000đ (Năm triệu, ba trăm năm mươi nghìn đồng) nhằm thu lời bất chính. Theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì: “Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng … thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Như vậy, hành vi bán số lô, số đề cho Mai Văn T và Mai Văn Th của bị cáo Nguyễn Thị Thu H nhằm mục đích thu lời bất chính đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng là khách thể được luật hình sự bảo vệ. Mặt khác, bị cáo đã từng bị xét xử về tội “Đánh bạc” tại Bản án số 06 ngày 06/3/2013 của Tòa án nhân dân thị xã Tam Điệp (nay là thành phố Tam Điệp), xử phạt bị cáo H 7.000.000 đồng, bị cáo đã chấp hành xong bản án và đã được xóa án tích được 5 năm, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn còn tiếp tục phạm tội thể hiện thái độ coi thường pháp luật, cố tình làm ngơ, bất chấp pháp luật, lao vào con đường phạm tội. Bị cáo Nguyễn Thị Thu H là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Vì vậy cũng cần buộc bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn chồng chết sớm một mình nuôi 3 con nhỏ có xác nhận của UBND phường Nam Sơn, bố bị cáo được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba, mẹ bị cáo được tặng huy hiệu 30 năm tuổi đảng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, tuy nhiên Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, khai báo thành khẩn, có nơi cư trú rõ ràng có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên căn cứ vào các điều kiện được hưởng án treo thì cần áp dụng khoản 1 và khoản 2 Điều 65 của BLHS cho bị cáo hưởng án treo, giao bị cáo cho UBND nơi bị cáo cư trú và gia đình bị cáo giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc để thu lời bất chính do vậy cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Thị Thu H theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự 2015 để sung quỹ nhà nước.

[5] Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

- Đối với 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, hồng, bên trong có lắp sim số thuê bao 0972.674.257. Quá trình điều tra, xác minh, chiếc điện thoại không liên quan đến hành vi phạm tội, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc điện thoại cho bị cáo Nguyễn Thị Thu H là có căn cứ và đúng pháp luật.

- Đối với 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia vỏ màu trắng, bên trong có lắp sim số thuê bao 0979.057.106 bị cáo không sử dụng chiếc điện thoại đó vào việc thực hiện hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

- Đối với 02 (hai) tờ vé lô tô đã qua sử dụng, mặt sau ghi các số lô, số đề mà bị cáo H đã bán cho Mai Văn T và Mai Văn Th ngày 26/11/2018; 01 tờ lịch in ngày 18/11/2018, mặt sau ghi các số lô, số đề H bán cho khách trong ngày 26/11/2018 được chuyển theo hồ sơ vụ án để làm căn cứ xử lý đối với bị cáo H nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với 01(một) chiếc bút bi, vỏ màu xanh, mực màu xanh đã qua sử dụng mà bị cáo H dùng để ghi các số lô, số đề bán cho Mai Văn T và Mai Văn Th ngày 26/11/2018 không còn giá trị sử dụng cần tịch thu và tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) chiếc máy tính casio đã qua sử dụng, bị cáo sử dụng vào việc tính toán số tiền ghi số lô, số đề nên tịch thu sung quỹ nhà nước.

- Đối với số tiền 19.291.000 đồng đã thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị Thu H. Quá trình điều tra xác minh trong đó có 7.341.000 đồng là số tiền mà bị cáo H đã bán số lô, số đề cho Mai Văn T và Mai Văn Th là 5.350.000 đồng và người đi đường không xác định được tên tuổi, địa chỉ ngày 26/11/2018 là 1.991.000 đồng cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước; Số tiền còn lại 11.950.000 đồng; trong đó: có 370.000 đồng là tiền bị cáo H đã vào vé lô tô, xổ số nhà nước và số tiền 11.580.000 đồng là tiền cá nhân của bị cáo H không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo.

[6] Đối với Mai Văn T và Mai Văn Th có hành vi mua số lô, số đề của bị cáo Nguyễn Thị Thu H. Trong đó, số tiền của Mai Văn T là 2.300.000 đồng, của Mai Văn Th là 3.050.000 đồng, đều dưới 5.000.000 đồng. Qua điều tra xác định Mai Văn T và Mai Văn Th chưa có tiền án, tiền sự về tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên Cơ quan Công an thành phố Tam Điệp không khởi tố đối với Mai Văn T và Mai Văn Th mà đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ và đúng pháp luật.

[7] Đối với Trương Thi T là người đã mua lại số lô, số đề của bị cáo Nguyễn Thị Thu H. Tuy nhiên, những chứng cứ tài liệu liên quan hành vi mua bán số lô, số đề giữa T và bị cáo H trước đó đều đã bị T và bị cáo H tiêu hủy hết không có căn cứ về nhứng lần ghi số lô, số đề này. Trong ngày 26/11/2018, giữa T và bị cáo H không có việc trao đổi, mua bán số lô, số đề nên không có căn cứ để xử lý đối với Trương Thi T. Cơ quan Công an thành phố Tam Điệp đã tách tài liệu để điều tra xử lý đối với Trương Thi T là có căn cứ và đúng pháp luật.

 [8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

 [9] Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a, b khoản 1 Điều 47; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, b khoản 2, khoản 3 Điều 106; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Thu H phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu H 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, thời gian thử thách tính từ ngày T án 28/2/2019. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Nam Sơn, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình là nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Nam Sơn, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hnh phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu H 10.000.000 đồng để sung quỹ nhà nước.

2. Xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc bút bi, vỏ màu xanh, mực màu xanh;

- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc máy tính nhãn hiệu Casio.

- Hoàn trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, vỏ màu trắng, bên trong lắp sim số thuê bao 0979.057.106. (Toàn bộ vật chứng nêu trên đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28 tháng 01 năm 2019).

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: Số tiền 7.341.000 đồng là số tiền mà bị cáo H đã bán số lô, số đề cho Mai Văn T và Mai Văn Th là 5.350.000 đồng và người đi đường không xác định được tên tuổi, địa chỉ là 1.991.000 đồng ngày 26/11/2018 ;

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Thu H số tiền 11.950.000 đồng; trong đó có 370.000 đồng là tiền bị cáo H đã vào vé lô tô, xổ số nhà nước và số tiền 11.580.000 đồng là tiền cá nhân của bị cáo H không liên quan đến hành vi phạm tội. (Số tiền 19.291.000 đồng đã được chuyển đến tài khoản tạm gửi của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp theo Ủy nhiệm chi lập ngày 28/01/2019).

3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Thu H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm báo cho bị cáo Nguyễn Thị Thu H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày T án 28 tháng 02 năm 2019. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hánh án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

132
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 10/2019/HSST ngày 28/02/2019 về tội đánh bạc

Số hiệu:10/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Tam Điệp - Ninh Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:28/02/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về