Bản án 10/2019/HS-ST ngày 25/06/2019 về tội vi phạm quy định khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH TUYÊN QUANG

BẢN ÁN 10/2019/HS-ST NGÀY 25/06/2019 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH KHAI THÁC, BẢO VỆ RỪNG VÀ LÂM SẢN

Ngày 25 tháng 6 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Tuyên Quang, Tòa án nhân dân huyện N tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số:10/2019/HSST ngày 20/5/2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2019/QĐXXST-HS ngày 11/6/2019 đối với bị cáo:

Triệu Văn T, sinh ngày 02/5/1991; nơi sinh: Huyện N, tỉnh T; nơi cư trú: Thôn P, xã S Huyện N, Tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; Con ông: Triệu Tài Nguyên và bà Triệu Thị Mấy; Có vợ: Chảo Mày Nvà 02 con; Tiền án; Tiền sự: Không; Nhân thân: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/3/2019, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

- Bị hại: UBND xã S, huyện N, tỉnh Tuyên Quang; người đại diện theo pháp luật: Ông Triệu Tiến P - Chủ tịch UBND xã; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nông Văn N- Phó Chủ tịch. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Chị Chảo Mẩy Nảy, sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn P, xã Sm Huyện N, Tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

+ Anh Triệu Văn Chang, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn P, xã Sm Huyện N, Tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

+ Anh Triệu Văn Thanh, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn N, xã S, huyện N, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

- Người làm chứng:

+ Anh Triệu Văn Nhậy, sinh năm 1980; nơi cư trú: Thôn P, xã Sm Huyện N, Tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

+ Anh Đặng Văn Dấu, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn P, xã Sm Huyện N, Tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ giữa tháng 7 năm 2018 đến đầu tháng 01 năm 2019, Triệu Văn T đã có hành vi Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản, cụ thể như sau:

- Lần 1: Khoảng 08 giờ ngày 14/7/2018, Triệu Văn T, trú tại Thôn P, xã Sm Huyện N, Tỉnh T mang theo 01 máy cưa xăng nhãn hiệu HUSQVARNA 365 và phụ kiện bao gồm: Lam xích, xăng, dầu nhớt (máy cưa của anh trai T là anh Triệu Văn Chang và anh rể Triệu Văn Thanh) đi lên khu rừng đặc dụng tự nhiên Khuổi Sỵ thuộc Thôn P, xã Sm Huyện N, Tỉnh T để cắt đổ 01 cây gỗ Kẹn, có đường kính gốc khoảng 50cm mà T đã phát hiện trước đó để xẻ lấy gỗ làm chuồng gà và lều nương, khi đi có chị Chảo Mày N(vợ T) đi cùng để tìm măng. Khi đến vị trí cây gỗ, T lắp các phụ kiện vào máy và thực hiện hành vi cắt ngang thân cây gỗ ở phần gốc (cách mặt đất khoảng 60 cm). T cắt liên tục trong khoảng 30 phút thì cây đổ, nhưng chưa đến mặt đất do vướng vào 01 thân cây gỗ Cà Lồ (cây có 02 nhánh, đường kính gốc mỗi nhánh khoảng 65cm), do vậy T tiếp tục dùng máy cưa sang cắt ngang thân cây của một nhánh Cà Lồ ở phần gốc (cách mặt đất khoảng 50cm), mục đích để cho cây Kẹn đổ xuống đất; khi T cắt được 1/3 thân cây thì cây bị nứt toác nhưng chưa đổ (lúc này khoảng 10 giờ cùng ngày), do sợ nguy hiểm đến tính mạng nên T dừng cắt và đi về nhà.

- Lần 2: Khoảng 08 giờ ngày 09/01/2019, T một mình mang theo 01 máy cưa xăng và các phụ kiện như ngày 14/7/2018 đi lên khu vực rừng đặc dụng tự nhiên Khuổi Sỵ, thuộc Thôn P, xã Sm Huyện N, Tỉnh Tuyên Quang để cắt đổ cây gỗ Máu Chó mà T đã phát hiện thấy trước đó để xẻ lấy gỗ làm nhà. Khi đến nơi T lắp các phụ kiện vào máy và thực hiện hành vi cắt ngang thân cây gỗ ở phần gốc (cách mặt đất khoảng 80 cm), T cắt liên tục trong khoảng hơn 30 phút thì cây đổ (lúc ngày khoảng 10 giờ cùng ngày), thân cây đập vào vách đá, vỡ thành nhiều mảnh, thấy vậy T lấy điện thoại di động ra chụp ghi lại hình ảnh. Trên đường về T đăng tải 03 hình ảnh chụp cây gỗ do T khai thác trái phép lên trang Facebook cá nhân và gửi vào tài khoản Facebook của vợ là chị Chảo Mẩy Nảy. Ngày 10/01/2019, Tổ công tác Trạm kiểm lâm Sơn phú thuộc Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng huyện N tiến hành tuần tra, kiểm tra lâm sản tại khu vực rừng đặc dụng tự nhiên Khuổi Sỵ và phát hiện cây gỗ Máu Chó bị khai thác trái phép có khối lượng 16,297m3. Qúa trình điều tra, xác minh xác định Triệu Văn T là người thực hiện hành vi khai thác trái phép và đã chuyển hồ sơ đến Cơ quan điều tra Công an huyện N giải quyết theo thẩm quyền.

- Tại biên bản khám nghiệm hiện trường và biên bản xác định đối tượng rừng và loài cây, lý lịch gỗ tròn (lập ngày 11/3/2019), đã xác định: Tại thời điểm khám nghiệm thì cây gỗ Kẹn và cây gỗ Cà Lồ do T khai thác trái phép đã bị đổ xuống đất; vị trí khai thác tại lô 17, khoảnh 564A, đối tượng rừng đặc dụng tự nhiên Khuổi Sỵ, thuộc Thôn P, xã Sm Huyện N, Tỉnh T. Cây gỗ Kẹn là thuộc loài thực vật thông thường (nhóm V) có khối lượng 3,910m3 gỗ tròn; Cây gỗ Cà Lồ là thuộc loài thực vật thông thường (nhóm VII), khối lượng 2,703m3 gỗ tròn. Tổng khối lượng gỗ do T khai thác trái phép (cây Kẹn và cây Cà Lồ) là: 6,613m3.

- Tại biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản xác định vị trí khai thác và biên bản xác định đối tượng rừng và loài cây, lý lịch gỗ tròn (lập ngày 31/01/2019 và ngày 11/3/2019), đã xác định: Cây gỗ do Triệu Văn T khai thác trái phép là cây gỗ Máu Chó là thuộc loài thực vật thông thường (nhóm VI), có khối lượng là 16,297m3 gỗ tròn; vị trí khai thác lô 17 khoảnh 564A, đối tượng rừng đặc dụng tự nhiên Khuổi Sỵ, thuộc Thôn P, xã Sm Huyện N, Tỉnh Tuyên Quang.

- Tại Kết luận định giá số: 04/TBKL-HĐĐGTSTTHS ngày 29/02/2019, của Hội đồng định giá tài sản Tố tụng hình sự huyện N, kết luận: Giá trị tài sản thiệt hại 01 cây gỗ Máu Chó thuộc loài thực vật thông thường (nhóm VI), khối lượng 16,297m3 gỗ tròn, có giá trị là 29.059.237đ (Hai mươi chín triệu, không trăm năm mươi chín nghìn, hai trăm ba mươi bảy đồng).

- Tại Kết luận định giá số: 08/TBKL-HĐĐGTSTTHS ngày 04/4/2019, của Hội đồng định giá tài sản Tố tụng hình sự huyện N, kết luận: Giá trị tài sản thiệt hại gồm 2,703m3gỗ Cà Lồ thuộc loài thực vật thông thường (nhóm VII), có giá trị là 3.616.157đ và 01 cây gỗ Kẹn thuộc loài thực vật thông thường (nhóm V), có khối lượng 3,910m3, có giá trị là 3.483.102đ.

Về vật chứng vụ án tạm giữ: 01 máy cưa xăng nhãn hiệu Husqvarna 365 cùng bộ lam xích và 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAM SUNG Galaxy J6 của Triệu Văn T, 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAM SUNG Galaxy J5 Prime của Chảo Mẩy Nảy. Còn đối với vật chứng là toàn bộ khối lượng cây gỗ Máu Chó, cây gỗ Cà Lồ, cây gỗ Kẹn tại hiện trường, sau khi khám nghiệm, Cơ quan tiến hành tố tụng đã bàn giao cho Ủy ban nhân dân xã Sơn Phú, huyện N, tỉnh Tuyên Quang quản lý theo quy định.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Triệu Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng: Biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản xác định đối tượng rừng và loài cây, lý lịch gỗ, vật chứng thu giữ, lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số: 11/CT-VKSNH ngày 17/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố Triệu Văn T về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo quy định tại điểm e khoản 3 Điều 232 của Bộ luật hình sự.

Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N luận tội và đề nghị HĐXX: Tuyên bố Triệu Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.

Về hình phạt chính:

- Đề nghị căn cứ điểm e khoản 3 Điều 232; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Triệu Văn T từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù. Hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 19/3/2019.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản có giá trị, thuộc diện hộ cận nghèo và không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng đề nghị HĐXX: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Trả lại cho bị cáo Triệu Văn T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J6, màu vàng, viền màn hình màu đen, màn hình cảm ứng, số IMEI 1: 358465091872302, IMEI 2: 358466091872300 nhưng tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

- Trả lại cho chị Chảo Mày N01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J5 Prime, số IMEI 1: 355079080194959, IMEI 2: 355080080194957, màn hình cảm ứng, vỏ màu ghi.

- Trả lại cho anh Triệu Văn Chang và anh Triệu Văn Thanh 01 chiếc cưa máy, nhãn hiệu Husqvarna 365, vỏ màu cam, lam xích dài 01m, bản lam rộng 08cm.

“Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện N lập ngày 20/5/2019”.

Giao toàn bộ khối lượng cây gỗ Máu Chó, cây gỗ Cà Lồ, cây gỗ Kẹn do bị cáo khai thác còn để tại hiện trường và khối lượng cây gỗ Kẹn, cây gỗ Cà Lồ do các đối tượng khác khai thác còn để tại hiện trường cho Ủy ban nhân dân xã Sơn Phú, huyện N, tỉnh Tuyên Quang tiếp tục quản lý, giải quyết theo thẩm quyền.

Ngoài ra đề nghị HĐXX buộc bị cáo phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát.

- Bị hại UBND xã Sơn Phú, huyện N trình bày ý kiến: Khu rừng đặc dụng tự nhiên Khuổi Sỵ thuộc Thôn P, xã Sm Huyện N, Tỉnh T thuộc thẩm quyền quản lý của UBND xã Sơn Phú, huyện N. Sau khi bị cáo Triệu Văn T khai thác trái phép bị phát hiện, UBND xã đã phối hợp với các cơ quan chức năng kiểm tra hiện trường và xác định được: Bị cáo khai thác trái phép tổng khối lượng gỗ là 22,91m3 (thuộc gỗ thuộc loài thực vật thông thường nhóm V, VI, VII), bao gồm gỗ Máu Chó, gỗ Cà Lồ, gỗ Kẹn, số gỗ trên vẫn để tại hiện trường, hiện UBND xã Sơn Phú đang quản lý theo thẩm quyền. Nay UBND xã Sơn Phú không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Chảo Mày Ntrình bày: Chị là vợ hợp pháp của bị cáo Triệu Văn T, chị biết việc T đi khai thác gỗ, nhưng không được bàn bạc và không tham gia khai thác gỗ cùng bị cáo T; đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J5 Prime là tài sản của chị dùng vào việc liên lạc hàng ngày, khi thấy T khai thác gỗ chị có dùng chiếc điện thoại trên quay lại 01 đoạn vi deo, nay chị đề nghị HĐXX xem xét trả lại chiếc điện thoại trên cho chị, ngoài ra không có ý kiến gì khác.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Triệu Văn C và Triệu Văn T trình bày: Chiếc cưa máy, nhãn hiệu Husqvarna 365, vỏ màu cam, lam xích dài 01m, bản lam rộng 08cm là của anh C và anh T cùng nhau bỏ tiền ra mua chung về sử dụng, sau đó anh T có hỏi mượn về để cắt củi, anh C và anh T không biết việc bị cáo T sử dụng chiếc cưa máy trên để đi khai thác gỗ trái phép, anh C và anh T đề nghị HĐXX xem xét trả lại chiếc cưa máy trên cho các anh, ngoài ra không có ý kiến gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về xem xét hành vi của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản xác định đối tượng rừng và loài cây, lý lịch gỗ, vật chứng thu giữ phù hợp với kết luận định giá và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ trên có đủ cơ sở kết luận: Trong các ngày 14/7/2018 và ngày 09/01/2019, Triệu Văn T đã thực hiện hành vi Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản, các lần cụ thể như sau:

- Lần 1: Khoảng 10 giờ ngày 14/7/2018, tại khu rừng đặc dụng Khuổi Sỵ, thôn Phia Chang, xã Sơn Phú, huyện N (thuộc lô 17 khoảnh 564A, đối tượng rừng đặc dụng), Triệu Văn T đã thực hiện hành vi khai thác trái phép 01 cây gỗ Kẹn thuộc loài thực vật thông thường (nhóm V), khối lượng 3,910m3, có giá trị 3.483.102đ và 2,703m3 cây gỗ Cà Lồ thuộc loài thực vật thông thường (nhóm VII), có giá trị 3.616.157 đồng. Tổng khối lượng cây gỗ Kẹn và cây gỗ Cà Lồ quy kết đối với T là: 6,613m3, có tổng giá trị 7.099.259đ (Bảy triệu, không trăm chín mươi chín nghìn, hai trăm năm mươi chín đồng).

- Lần 2: Khoảng 10 giờ ngày 09/01/2019, tại khu rừng đặc dụng Khuổi Sỵ, thôn Phia Chang, xã Sơn Phú, huyện N (thuộc lô 17 khoảnh 564A, đối tượng rừng đặc dụng), Triệu Văn T đã thực hiện hành vi khai thác trái phép 01 cây gỗ Máu Chó thuộc loài thực vật thông thường (nhóm VI), có khối lượng 16,297m3, có trị 29.059.237đ (Hai mươi chín triệu, không trăm năm mươi chín nghìn, hai trăm ba mươi bảy đồng).

Tổng khối lượng gỗ thuộc loài thực vật thông thường (nhóm V, VI, VII) nêu trên quy kết trách nhiệm hình sự đối với Triệu Văn T là: 22,91m3, trị giá: 36.158.496đ.

Hành vi của bị cáo đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”, bị cáo T có hành vi khai thác trái phép tổng khối lượng gỗ là 22,91m3 (thuộc gỗ thuộc loài thực vật thông thường nhóm V, VI, VII), nên hành vi của bị cáo thuộc trường hợp quy định tại điểm e khoản 3 Điều 232 của Bộ luật hình sự.

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[2]. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, gây nguy hại đến tài nguyên rừng, gây mất ổn định an ninh trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực nhận thức, bị cáo biết hành vi khai thác gỗ trái phép là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với hành vi của mình. Trong vụ án này bị cáo một mình thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo trực tiếp chuẩn bị các công cụ, phương tiện để khai thác gỗ, tự mình chặt đổ các cây gỗ nhưng do khi chặt đổ cây bị hư hỏng nên bị cáo không sử dụng được, xét về mục đích bị cáo có ý định khai thác các cây gỗ trên mang về làm nhà ở, xuất phát từ điều kiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo không có mục đích bán số gỗ trên để hưởng lợi, nên tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo cũng giảm đi phần nào.

[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội nhiều lần theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; bố đẻ bị cáo là ông Triệu Tài Nguyên từng tham gia dân công hỏa tuyến có thành tích đóng góp cho cách mạng; tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS.

[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng cần xử phạt bị cáo hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục cũng như phòng ngừa tội phạm chung như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, có căn cứ.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản có giá trị, thuộc diện hộ cận nghèo và không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa đại diện UBND xã Sơn Phú, huyện N không đề nghị bị cáo bồi thường, nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[7]. Về vật chứng liên quan đến vụ án:

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J6, màu vàng, viền màn hình màu đen, màn hình cảm ứng, số IMEI 1: 358465091872302, IMEI 2: 358466091872300 của bị cáo Triệu Văn T; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J5 Prime, số IMEI 1: 355079080194959, IMEI 2: 355080080194957, màn hình cảm ứng, vỏ màu ghi của chị Chảo Mày N không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo T và chị Chảo Mày N nhưng tạm giữ chiếc điện thoại của bị cáo T để đảm bảo cho việc thi hành án.

- Đối với 01 chiếc cưa máy, nhãn hiệu Husqvarna 365, vỏ màu cam, lam xích dài 01m, bản lam rộng 08cm bị cáo T sử dụng để khai thác gỗ, quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định được là tài sản chung của anh Triệu Văn C và Triệu Văn T, anh C và anh T không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho anh C và anh T.

Đối với khối lượng cây gỗ Máu Chó, cây gỗ Cà Lồ, cây gỗ Kẹn do bị cáo khai thác còn để tại hiện trường và khối lượng cây gỗ Kẹn và cây gỗ Cà lồ do các đối tượng khác khai thác còn để tại hiện trường cần giao cho Ủy ban nhân dân xã Sơn Phú, huyện N, tỉnh Tuyên Quang tiếp tục quản lý, giải quyết theo thẩm quyền.

[8]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

Qua xem xét, nghiên cứu hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật có liên quan. Khởi tố, điều tra, thu thập chứng cứ, truy tố đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[9]. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Triệu Văn T phạm tội "Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản".

2. Về hình phạt:

- Căn cứ điểm e khoản 3 Điều 232; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Triệu Văn T 05 năm 03 tháng tù. Hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, ngày 19/3/2019.

3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Trả lại cho bị cáo Triệu Văn T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J6, màu vàng, viền màn hình màu đen, màn hình cảm ứng, số IMEI 1: 358465091872302, IMEI 2: 358466091872300 nhưng tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

- Trả lại cho chị Chảo Mày N01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J5 Prime, số IMEI 1: 355079080194959, IMEI 2: 355080080194957, màn hình cảm ứng, vỏ màu ghi.

- Trả lại cho anh Triệu Văn Chang và anh Triệu Văn Thanh 01 chiếc cưa máy, nhãn hiệu Husqvarna 365, vỏ màu cam, lam xích dài 01m, bản lam rộng 08cm.

“Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện N lập ngày 20/5/2019”.

Giao khối lượng cây gỗ Máu Chó, cây gỗ Cà Lồ, cây gỗ Kẹn là 22,91m3 do bị cáo khai thác trái phép để tại hiện trường cho Ủy ban nhân dân xã Sơn Phú, huyện N, tỉnh Tuyên Quang tiếp tục quản lý, giải quyết theo thẩm quyền.

Tiếp tục giao 2,268 m3 cây gỗ Kẹn và 2,739 m3 cây gỗ Cà Lồ do các đối tượng khác khai thác còn để tại hiện trường cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện N, tỉnh Tuyên Quang quản lý, giải quyết theo thẩm quyền.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Triệu Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./ 


33
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 10/2019/HS-ST ngày 25/06/2019 về tội vi phạm quy định khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản

Số hiệu:10/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nà Hang - Tuyên Quang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 25/06/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về