Bản án 10/2019/HS-ST ngày 05/03/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN - TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 10/2019/HS-ST NGÀY 05/03/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 05 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2019/HSST ngày 31 tháng 01 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2019/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:

Phạm Công D. Tên gọi khác: không. Sinh ngày 27/12/1981. Nơi sinh: huyện C, tỉnh Sơn La. Nơi đăng ký HKTT và nơi ở: Thôn A, xã M, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Chức vụ ĐTĐP: Không. Con ông Phạm Văn T và bà Hoàng Thị M. Bị cáo có vợ là Bùi Thị Q; có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2013. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/11/2018, giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Tô Trọng Â, sinh năm 1975. Trú tại: Thôn A, xã M, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 11 giờ 30 phút ngày 26/11/2018, Phạm Công D cư trú tại thôn A, xã M, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La nảy sinh ý định mua ma túy về để sử dụng cho bản thân. D gọi điện thoại cho người quen tên là K dùng số thuê bao 0399.128.226 (D không rõ nơi cư trú) đặt vấn đề hỏi mua hồng phiến. K đồng ý và hẹn gặp bán ma túy cho D tại khu vực cổng trường cao đẳng Sơn La thuộc phường S, thành phố Sơn La. D đồng ý và mang theo số tiền 200.000VNĐ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Meritus, màu sơn đen, biển kiểm soát 26F4-5457 đi từ nhà ở đến trường cao đẳng Sơn La gặp K . Đến nơi D gặp K đang đứng tại khu vực cổng trường cao đẳng Sơn La, D đưa cho K 200.000VNĐ. K cầm tiền rồi đưa cho D 02 gói được gói bằng giấy bạc, bên trong mỗi gói đều chứa 01 viên hồng phiến, D cầm 02 gói hồng phiến trên tay rồi điều khiển xe đi tìm nơi sử dụng. Đi được khoảng 200m, D dừng xe cất giấu hồng phiến vừa mua được trong bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng của D rồi tiếp tục điều khiển xe đi tìm nơi sử dụng. Khi đến khu vực thôn 4, xã M, huyện Mai Sơn, D dựng xe bên đường rồi đi vào khu vực nương cà phê để sử dụng ma túy thì bị tổ công tác Công an xã M phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng gồm: 01 bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng có chứa hai viên nén nghi ma túy tổng hợp. Kiểm tra thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen tại tay trái của D đang cầm; 01 xe mô tô nhãn hiệu Meritus biển kiểm soát 26F4-5457, số khung:1121324, số máy: 1121324; 01 bật lửa ga màu cam nhãn hiệu Thống Nhất.

Cùng ngày Công an huyện Mai Sơn phối hợp cùng phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Sơn La cân tịnh 02 viên nén màu hồng khi bắt quả tang Phạm Công D, kết quả 01 viên nén màu hồng trong gói thứ nhất có khối lượng 0,1 gam trích rút toàn bộ ký hiệu M1 làm mẫu giám định, 01 viên nén màu hông trong gói thứ hai có khối lượng 0,1 gam trích rút toàn bộ ký hiệu M2 làm mẫu giám định. Như vậy, tổng khối lượng 02 viên nén màu hồng là 0,2 gam trích rút toàn bộ làm mẫu giám định.

Ngày 30 /11/2018, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La ra bản kết luận giám định số 21, kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu M1, M2 là ma tuý; Loại Methamphetamine; Tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,2 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ được là 0,2 gam, loại methamphetamine”.

Tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

Bản cáo trạng số 11/CT-VKSMS ngày 31/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn đã truy tố các bị cáo Phạm Công D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Sau khi kết thúc phần thẩm vấn, đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội đối vớibị cáo và đã giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Phạm Công D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Phạm Công D từ 13 đến 16 tháng tù giam.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về vật chứng: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tch thu tiêu hủy 01 vỏ bao bì niêm phong tang vật ban đầu; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng cùng các mảnh giấy bạc gói ma túy ban đầu (đã được niêm phong theo quy định); 01 bật lửa ga màu cam nhãn hiệu Thống Nhất.

Tch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen kèm 01 sim điện thoại số thuê bao 0967651903.

Trả lại cho ông Tô Trọng  01 xe máy nhãn hiệu Meritus, mang biển kiểm soát 26F4 – 5457, sơn màu xanh (đen) không có yếm (loại xe thồ, hư hỏng nhiều chỗ); số khung 1121324, số máy U110A1121324, đã qua sử dụng cũ.

Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.

Bị cáo tự bào chữa: đều nhất trí với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Sơn, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố, và tại phiên tòa hôm nay không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Phạm Công D là đối tượng sử dụng trái phép chất ma tuý. Ngày 26/11/2018, Phạm Công D đã mua trái phép 200.000VNĐ ma túy để sử dụng cho bản thân và đã bị tổ công tác Công an xã M, huyện Mai Sơn phát hiện bắt quả tang thu giữ 0,2 gam methamphetamine.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 12 giờ 10 phút ngày 26/11/2019, biên bản khám xét khẩn cấp, biên bản mở niêm phong, cân tịnh, trích rút mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng; phù hợp với kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Sơn La, phù hợp với biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung đối với bị cáo... và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua tranh luận tại phiên tòa không có gì mâu thuẫn.

Như vậy đã có đầy đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Công D đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Viện kiểm sát truy tố và Tòa án xét xử bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai cho bị cáo. Điều luật quy định:

Điều 249 BLHS năm 2015 quy định: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;" [3] Xét thấy tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, Hội đồng xét xử thấy rằng: hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo Phạm Công D không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, với lỗi cố ý. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét các tình tiết: Quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 sẽ được Hội đồng xét xử xem xét áp dụng đối với bị cáo khi lượng hình.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã xác định bị cáo không có tài sản gì có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Toàn bộ số methamphetamine khi bắt quả tang đối với bị cáo đã được trích rút làm mẫu giám định. Vỏ vật chứng còn lại ban đầu, 01 bật lửa ga màu vàng sẽ tịch thu tiêu hủy theo quy định.

Đi với 01 điện thoại di động hiệu Nokia kèm 01 sim điện thoại thu giữ của bị cáo là công cụ bị cáo khai nhận sử dụng để liên lạc mua bán ma túy nên cần tịch thu sung công nhà nước theo quy định.

Đi với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 26F4-5457, sơn màu xanh (đen) không có yếm bị cáo sử dụng để làm phương tiện đi mua ma túy sử dụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã xác định thuộc sở hữu của ông Tô Trọng Â. Chiếc xe này bị cáo được ông  cho mượn để đưa đón con đi học. Ông  không biết bị cáo là người sử dụng ma túy và cũng không biết bị cáo sử dụng chiếc xe trên làm phương tiện đi mua ma túy. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần trao trả lại chiếc xe trên cho ông Tô Trọng Â.

Về nguồn gốc ma tuý, Phạm Công D khai mua của một người đàn ông tên K (không rõ nơi cư trú) tại khu vực cổng trường cao đẳng Sơn La việc mua bán không có ai biết, chứng kiến, do đó cơ quan CSĐT Công an huyện Mai Sơn không có cơ sở để điều tra xác minh.

Đi với chiếc xe mô tô hiệu Meritus, biển kiểm soát 26F4-5457 quá trình điều tra xác định là xe của Tô Trọng Â, trú tại thôn A, xã M, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La nhưng không biết D mượn để sử dụng vào việc phạm tội, do đó cơ quan CSĐT Công an huyện Mai Sơn không đặt vấn đề xử lý đối với Tô Trọng Â.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên 

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Phạm Công D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Phạm Công D 13 (mười ba) tháng tù giam. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 26/11/2018).

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tch thu tiêu hủy 01 vỏ bao bì niêm phong tang vật ban đầu; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng cùng các mảnh giấy bạc gói ma túy ban đầu (đã được niêm phong theo quy định); 01 bật lửa ga màu cam nhãn hiệu Thống Nhất.

Tch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen kèm 01 sim điện thoại số thuê bao 0967651903 thu giữ của bị cáo Phạm Công D.

Trả lại cho ông Tô Trọng  01 xe máy nhãn hiệu Meritus, mang biển kiểm soát 26F4 – 5457, sơn màu xanh (đen) không có yếm (loại xe thồ, hư hỏng nhiều chỗ); số khung 1121324, số máy U110A1121324, đã qua sử dụng cũ.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai. 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

148
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 10/2019/HS-ST ngày 05/03/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:10/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mai Sơn - Sơn La
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 05/03/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về