Bản án 10/2019/HNGĐ-ST ngày 26/11/2019 về ly hôn, nuôi con chung

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ - TỈNH YÊN BÁI

BẢN ÁN 10/2019/HNGĐ-ST NGÀY 26/11/2019 VỀ LY HÔN, NUÔI CON CHUNG

Ngày 26 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 94/2019/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2019 về tranh chấp Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2019/QĐXX-ST ngày 25 tháng 10 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2019/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Thúy V - Sinh năm 1977. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H - Sinh năm 1976. Vắng mặt

Cùng địa chỉ: Tổ 7, phường P, thị xã N, tỉnh Y.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 27/8/2019 và bản tự khai chị Hoàng Thị Thúy V trình bày: Chị và anh H kết hôn với nhau hoàn toàn tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND phường C, thị xã N ngày 13/9/2000. Quá trình chung sống anh chị có phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh H có quan hệ bất chính bên ngoài, trong việc làm ăn kinh tế thì tự quyết tự làm không có sự bàn bạc thống nhất với chị nên sảy ra nợ nần không trả được. Khi chị tham gia khuyên bảo thì anh Hiến không nghe, ngoài ra anh H còn không quan tâm đến việc chăm sóc dạy dỗ con chung. Anh chị có được gia đình khuyên giải nhưng vẫn không cải thiện được mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn. Chị V xác định đời sống chung không có hạnh phúc, do vậy chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.

Về con chung: Chị và anh H có 02 con chung là Nguyễn Thị Huyền T, sinh ngày 25/5/2001 và cháu Nguyễn Khánh L, sinh ngày 05/7/2010, chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu L và yêu cầu anh H cấp dưỡng 4.000.000đồng/tháng.

Về tài sản: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Để chứng minh cho yêu cầu của mình chị V đã nộp cho Tòa án chứng cứ là giấy chứng nhận kết hôn, CMND của chị và anh H, giấy khai sinh của Nguyễn Thị Huyền T và Nguyễn Khánh L; sổ hộ khẩu gia đình.

Tại bản tự khai ngày 03/9/2019 anh Nguyễn Văn H trình bày: Về quan hệ hôn nhân nhất trí với chị V về thời gian, nơi đăng ký và nơi cư trú. Vợ chồng chung sống có mâu thuẫn nhỏ không đến mức trầm trọng, chị V nghi ngờ anh có quan hệ ngoại tình, không tin tưởng anh trong việc làm ăn và quan hệ tình cảm nên đã làm đơn ra tòa. Anh H cho rằng mâu thuẫn của gia đình chưa đến mức phải ly hôn nên anh không đồng ý ly hôn vì các con đã lớn. Về con chung anh thừa nhận có 02 con chung như chị V khai nhưng anh không có đề nghị gì, tài sản chung anh H không có ý kiến gì.

Tòa án lấy lời khai của cháu Nguyễn Khánh L có nguyện vọng được ở với chị V. Tại phiên hòa giải chị V và anh H không thống nhất được, mỗi người vẫn giữ quan điểm của mình.

Tòa án tiến hành xác minh quan hệ hôn nhân tại nơi cư trú của chị V, anh H ở tổ 7, phường P, thị xã N được tổ trưởng cho biết: Gia đình chị V, anh H chung sống tại tổ dân phố có sảy ra tranh cãi, chị V cho rằng anh H ngoại tình nhưng chưa báo cáo với tổ dân phố để hòa giải, chị V đi làm thường xuyên và ở gần nhà mẹ đẻ nên thấy tiếp xúc với gia đình ngoại nhiều hơn, anh H làm lái xe gần đây vắng nhà thường xuyên. Bà Nguyễn Thị Ả là mẹ đẻ chị V sinh sống gần nhà chị V, anh H cho biết: Thông qua lời chia sẻ của chị V bà được biết gia đình anh chị có mâu thuẫn với nhau từ 03 đến 04 năm nay, giữa anh chị thường xuyên sảy ra tranh cãi, xô sát có lần chị V phải sang ở nhờ nhà bà trong thời gian vài tháng. Bà đã nhiều lần khuyên bảo anh chị nhưng vẫn không có kết quả.

Ngày 22/10/2019 chị V thay đổi yêu cầu không đề nghị anh H phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị nữa. Chị đề nghị được ly hôn với anh H và xin được nuôi cháu Nguyễn Khánh L.

Tại phiên tòa anh H vắng mặt không có lý do, chị V vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ có quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do chính đáng là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị xử cho chị V ly hôn với anh H; con chung: Giao con Nguyễn Khánh L cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung anh chị không yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Hoàng Thị Thúy V xin ly hôn với anh Nguyễn Văn H có hộ khẩu thường trú tại tổ 7, phường Pú T, thị xã N. Theo quy định tại Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, quan hệ pháp luật tranh chấp là: Ly hôn, nuôi con chung. Sau khi ban hành quyết định mở phiên tòa anh H không có mặt tại địa phương, tòa án tiến hành thủ tục niêm yết công khai tại nơi cư trú và thông báo cho gia đình biết để liên lạc với anh H. Tại phiên tòa mở ngày 11/11/2019 anh H không có mặt không có lý do chính đáng nên Tòa án đã hoãn phiên tòa và niêm yết quyết định theo đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay anh H không có mặt lần thứ hai không có lý do, theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh H.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Thúy V và anh Nguyễn Văn H có đăng ký kết hôn tại UBND phường C, thị xã N ngày 13/9/2000 việc kết hôn là tự nguyện, không bị ép buộc. Theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân gia đình thì quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Cuộc sống chung của vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh H làm ăn thua lỗ, không có sự bàn bạc thống nhất với chị V. Chị V nghi ngờ anh Hiến có quan hệ ngoại tình nên tình cảm rạn nứt. Tại nơi cư trú xác nhận anh chị có xô sát với nhau, mẹ đẻ chị V ở gần cũng xác nhận việc gia đình chị V và anh H có mâu thuẫn, có lần chị V phải sang ở nhờ nhà bà. Mặc dù anh H cho rằng mâu thuẫn của anh chị không đến mức phải ly hôn nhưng có thừa nhận tình cảm rạn nứt, chứng tỏ đời sống chung của gia đình không được thuận hòa, không có hạnh phúc.

Như vậy, cả chị V và anh H cùng xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh chị không có tiếng nói chung trong việc làm ăn kinh tế dẫn đến thua lỗ và nợ nần, từ đó vợ chồng không còn tin tưởng nhau, nghi ngờ nhau. Do vậy đời sống hôn nhân không có hạnh phúc, mục đích xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc không đạt được nên việc chị V làm đơn xin ly hôn với anh H là có cơ sở. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình thì yêu cầu xin ly hôn của chị V được chấp nhận.

[3] Về con chung: Anh, chị có hai con chung là Nguyễn Thị Huyền T, sinh ngày 25/5/2001 đã thành niên và cháu Nguyễn Khánh L, sinh ngày 05/7/2010. Xét thấy cháu L có nguyện vọng được ở cùng mẹ, hiện nay cháu đang chung sống cùng chị V, chị V có công việc ổn định và thu nhập từ nghề giáo viên, anh H thường đi làm xa nhà nên không thể có thời gian và điều kiện chăm sóc con tốt như chị V. Vì vậy cần giao cháu L cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng. Chị V không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

[4] Về tài sản: Chị V không đề nghị, anh H không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Chị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 28, 35, 39, 147, 227, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị Thúy V. Xử cho chị Hoàng Thị Thúy V được ly hôn anh Nguyễn Văn H

2. Con chung: Giao con Nguyễn Khánh L, sinh ngày 05/7/2010 cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị V. Anh H có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở quyền thăm nom con chung của anh H.

3. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Hoàng Thị Thúy V phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị V đã nộp 300.000đồng theo biên lai thu số AA/2017/0003174 ngày 27/8/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghĩa Lộ. Chị V đã nộp đủ án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Chị V có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.


17
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 10/2019/HNGĐ-ST ngày 26/11/2019 về ly hôn, nuôi con chung

Số hiệu:10/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Nghĩa Lộ - Yên Bái
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 26/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về