Bản án 10/2018/HS-ST ngày 20/04/2018 về tội giao cấu với trẻ em

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 10/2018/HS-ST NGÀY 20/04/2018 VỀ TỘI GIAO CẤU VỚI TRẺ EM 

Trong ngày 20 tháng 4 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 08/2018/HSST ngày 06 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2018/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh S, sinh năm 1995 tại Tiền Giang.

Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp A, xã B, huyện N, tỉnh Tiền Giang; số chứng minh nhân dân: 312250876; Nghề nghiệp: Sửa xe; Trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; Con ông Nguyễn Văn B và bà Lê Thị Kim L;  Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo tại ngoại. (Có mặt).

- Người bị hại:

Nguyễn Thị Thùy D, sinh ngày 28/7/2002. (Vắng mặt) Trú quán: ấp F, xã G, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang- Người đại diện hợp pháp của người bị hại.

1/ Đăng Thị Bích H, sinh năm 1981. (Vắng mặt)

Trú quán: ấp F, xã G, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

2/ Nguyễn Văn H , sinh năm 1977. (Vắng mặt)

Trú quán: ấp F, xã G, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Nguyễn Văn B, sinh năm 1969. (Vắng mặt

Trú quán: : ấp A, xã B, huyện N, tỉnh Tiền Giang.

- Người làm chứng:

Đoàn Minh T, sinh năm 2001. (Vắng mặtTrú quán: Trú quán:  Số L, đường Q, phường K, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền

- Người đại diện hợp pháp của người làm chứng:

Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm 1969. (Vắng mặt)

Trú quán: : Số L, đường Q, phường K, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hò sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 8/2017, Nguyễn Thanh S và Nguyễn Thị Thùy D, sinh ngày 28/7/2002, đăng ký thường trú ấp F, xã G, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang quen biết nhau và phát sinh tình cảm nam nữ. Tối ngày 07/10/2017, S nhắn tin thông qua mạng xã hội Facebook hẹn trưa ngày 08/10/2017 sẽ đến chở D đi chơi thì D đồng ý. Khoảng13 giờ ngày 08/10/2017, S điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 63K9-4190 đến chở D đi vòng quanh khu vực chợ Cai Lậy. Sau   đó, S chở D đến nhà trọ H tọa lạc khu phố 1, phường 5, thị xã Cai Lậy thuê phòng số 11 để nghỉ. Tại đây, được sự đồng ý của D nên S và D đã giao cấu với nhau 01 lần. Sau khi giao cấu xong, S điều khiển xe đưa D về nhà. Sau đó, sự việc trên bị gia đình D phát hiện nên đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra tố giác hành vi của Nguyễn Thanh S.

Bản kết luận giám định pháp y về tình dục số 42/17/TD ngày 14/10/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Tiền Giang kết luận Nguyễn Thị Thùy D:

- Màng trinh: dãn rộng, rách cũ vị trí 5 giờ và 8 giờ.

- Soi tươi tìm xác tinh trùng: Không tìm thấy xác tinh trùng. Về trách nhiệm dân sự: Đại diện bị hại ông Nguyễn Văn H yêu cầu S bồi thường số tiền 35.000.000 đồng. Bị cáo đã bồi thường xong.

Cáo trạng số 11/CT-VKSTXCL ngày 05 tháng 3 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy truy tố Nguyễn Thanh S tội “ Giao cấu với trẻ em” theo quy định tại khoản 1 Điều 115 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang giữ quyền công tố luận tội va tranh luận, đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh S phạm tội “Giao cấu với trẻ em”, áp dụng khoản 1 Điều 115, điểm b, p khoản 1 Điều 46, Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 xử phạt bị cáo từ 01-1,5 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02-03 năm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Tại phiên Tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Thanh S đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố cụ thể: Vào ngày 08/10/2017 Nguyễn Thanh S đã giao cấu 01 lần với Nguyễn Thị Thùy D, sinh ngày 28/7/2002 tại nhà trọ H tọa lạc khu phố 1, phường 5, thị xã Cai Lậy. Xét lời khai nhận của bị cáo đã phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, tại thời điểm này Thùy D dưới 16 tuổi. Do đó bị cáo đã phạm vào tội “ Giao cấu với trẻ em” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 115 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo nghiêm trọng. Bởi lẽ, việc giao cấu tuy có sự đồng ý của người bị hại nhưng tại thời điểm bị cáo giao cấu thì bị hại chưa đủ 16 tuổi nên khả năng nhạn thức còn non nớt hạn chế về nhiều mặt. bị cáo đã lợi dụng sự thiếu hiểu biết của bị hại nhất là việc quyết định về mặt tình dục hành vi này không những trực tiếp xâm hại đến sự phát triển bình thường về mặt thể chất và tâm sinh lý của Thùy D mà còn gây ảnh hưởng xấu đến đạo đức danh dự nhân phẩm và tinh thần của bị hại do đó cần phải được xử lý nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện.

Tuy nhiên Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ, Bởi vì bị cáo có nhân thân tốt, mới phạm tội lần đầu chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra cũng như tại Tòa biết thành thật khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải và đã tự nguyện khắc phục xong hậu quả, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại  b, p khoản 1 Điều 46 BLHS. Từ đó nghĩ cần không phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao về cho chính quyền địa phương giám sát giáo dục là đủ.

Do hành vi phạm tội của bị cáo xảy ra trước ngày 01/01/2018, căn cứ vào Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015. Hội đồng xét xử áp dụng Bộ luật hình sự năm 1999 để xét xử bị cáo là phù hợp.

Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thanh S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh S phạm tội “Giao cấu với trẻ em”.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 115; Điểm b, p khoản 1 Điều 46, Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội.

Xử phạt Bị cáo Nguyễn Thanh S 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã Long Tiên, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69  của Luật thi hành án hình sự.

2.Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy đình về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng về án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thanh S phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo, áp dụng Điều 331, 332, 333, 334 Bộ luật tố tụng hình sự

Trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án.

Riêng những người vắng mặt thời gian được tính kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.


73
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về