Bản án 101/2020/HNGĐ-ST ngày 25/09/2020 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 101/2020/HNGĐ-ST NGÀY 25/09/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 25 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 244/2020/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 6 năm 2020 về “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 59/2020/QĐST – HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phan Thị Hồng M, sinh năm 1974:

Địa chỉ: Số 501, Ấp 1, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

- Bị đơn: Anh Phạm Văn T, sinh năm 1974:

Địa chỉ: Số 501, Ấp 1, xã L, huyện C, tỉnh Long An. (Chị M có mặt, anh T vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện nhận ngày 03/6/2020 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Phan Thị Hồng M trình bày: chị và anh T cưới nhau vào năm 1998, có đăng ký kết hôn vào ngày 15/10/2001 tại UBND xã L, huyện C, tỉnh Long An. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do anh T không chung thủy với chị mà có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, chị đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng không có kết quả, vợ chồng ly thân từ tháng 01/2018 đến nay. Nay, chị nhận thấy không còn tình cảm với anh T, vợ chồng không còn khả năng hàn gắn nên chị khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Văn T.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Phạm Huyền T1, sinh ngày: 15/01/1999 hiện đã thành niên và Phạm Tấn H, sinh ngày 03/4/2006, hiện đang sống với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung tên Phạm Tấn H, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản: vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: không có.

Bị đơn anh Phạm Văn T đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác cho anh T biết để thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, nhưng không có ý kiến gì và vắng mặt suốt quá trình giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Chị Phan Thị Hồng M khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Phạm Văn T là quan hệ tranh chấp ly hôn, căn cứ theo qui định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An.

Anh Phạm Văn T đã được Tòa án đã tống đạt các thông báo thụ lý, thông báo về phiên hòa giải, thông báo phiên tòa sơ thẩm, thông báo hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng anh T vẫn không đến tham dự phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xử vắng mặt anh T.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân:

Chị Phan Thị Hồng M và anh Phạm Văn T cưới nhau vào năm 1998, có đăng ký kết hôn vào ngày 15/10/2001 tại UBND xã L, huyện C, tỉnh Long An là hôn nhân hợp pháp.

Nguyên nhân dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn theo chị M trình bày do anh T không chung thủy với chị, có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, chị nhiều lần khuyên nhủ nhưng không có kết quả, vợ chồng ly thân từ tháng 01/2018 đến nay nên chị cương quyết xin ly hôn.

Anh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng nhưng vẫn không gửi cho Tòa án bất cứ văn bản nào trình bày ý kiến của mình cũng như không đến tham gia phiên hòa giải, phiên tòa. Từ đó cho thấy, anh T không có thiện chí muốn hàn gắn tình cảm với chị M.

Do đó, có đủ căn cứ để chứng minh mâu thuẫn giữa chị M và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận cho chị Phan Thị Hồng M được ly hôn với anh Phạm Văn T.

[2.2] Về nuôi con chung:

Chị M và anh T có 02 con chung tên 02 con chung tên Phạm Huyền T1, sinh ngày: 15/01/1999, đã thành niên và Phạm Tấn H, sinh ngày 03/4/2006. Hiện tại, cháu H sống với chị M đã ổn định, cháu H có nguyện vọng được sống với chị M nên việc chị M yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung tên Phạm Tấn H là phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình, cần chấp nhận.

Chị M tự nguyện không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên không xét. Anh T không trực tiếp nuôi con nhưng được quyền đến thăm nom chăm sóc con chung, không ai được quyền cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

[2.3] Về chia tài sản và nợ chung: Chị M trình bày tài sản chung vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết và nợ chung không có nên không xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp về chia tài sản và nợ chung thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác.

[2.4] Về án phí: Chị Phan Thị Hồng M phải chịu án phí theo qui định của pháp luật án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Hồng M về việc “tranh chấp ly hôn” đối với anh Phạm Văn T.

Về hôn nhân: Chị Phan Thị Hồng M được ly hôn với anh Phạm Văn T.

Về nuôi con chung: chị M và anh T có 02 con chung tên Phạm Huyền T1, sinh ngày: 15/01/1999, hiện đã thành niên và Phạm Tấn H, sinh ngày 03/4/2006. Chị Phan Thị Hồng M được quyền tiếp tục trực tiếp nuôi con chung tên Phạm Tấn H, sinh ngày 03/4/2006. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con nhưng có quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Về án phí: Chị Phan Thị Hồng M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0008574 ngày 19/6/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C, chị M đã nộp đủ.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


1
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 101/2020/HNGĐ-ST ngày 25/09/2020 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:101/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cần Đước - Long An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:25/09/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về