Bản án 101/2019/HS-ST ngày 28/08/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 101/2019/HS-ST NGÀY 28/08/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 28 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuận Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 99/2019/TLST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2019/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Quàng Văn Th; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh năm 1971 tại xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản M, xã Th M, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Trồng trọt; chức vụ (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; trình độ học vấn: 5/12; con ông Quàng Văn M, sinh năm 1930 và bà Quàng Thị L, sinh năm 1932; vợ là Lò Thị I, sinh năm 1970 vào có 04 con, con lớn nhất 28 tuổi, nhỏ nhất 16 tuổi; Tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07-5- 2019, có mặt tại phiên tòa.

2. Lò Văn Qu; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh năm: 1977 tại xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản M, xã Th M, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Trồng trọt; chức vụ (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; trình độ học vấn: 6/12; con ông Lò Văn H, sinh năm 1940 và bà Lò Thị C, sinh năm 1943; vợ là Lường Thị N, sinh năm 1978 và có 02 con, lớn nhất 21 tuổi, nhỏ nhất 19 tuổi; Tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07-5-2019, có mặt tại phiên tòa.

Ngươì có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Lò Thị I – sinh năm 1970; Địa chỉ: Bản M, xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 00 phút ngày 07/5/2019 Tổ công tác Đội hình sự - Ma túy Công an huyện Thuận Châu, làm nhiệm vụ tại khu vực bản Hợp Thành, xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu, Sơn La thì phát hiện bắt quả tang Lò Văn Qu và Quàng Văn Th có hành vi cất giữ trái phép chép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói ni lông màu trắng bên trong có chứa bột cục màu trắng nghi là heroine và 02 viên nén hình trụ tròn màu hồng nghi là ma túy tổng hợp; 70.000 đồng tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu ROONEY; BKS 26H6 7644; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu DOPOD.

Ngày 07/5/2019, Công an huyện Thuận Châu, phối hợp với Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành cân tịnh và xác định được: gói bột màu trắng có khối lượng 0,11 gam, rút toàn bộ đánh ký hiệu T1; 02 viên nén màu hồng có khối lượng 0,23 gam rút toàn bộ đánh ký hiệu T2; các mẫu T1, T2 gửi Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La để giám định chất ma túy Tại Kết luận giám định số: 869/KLMT ngày 09/5/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu T1 là chất ma túy, loại chất heroine; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,11 gam. Mẫu gửi giám định ký hiệu T2 là chất ma túy, loại chất Methamphetamine; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,23 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,11 gam, loại heroine và 0,23 loại Methamphetamine. Mẫu giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Quá trình điều tra bị cáo Quàng Văn Th, Lò Văn Qu đã khai nhận: Khoảng 10 giờ ngày 07/5/2019, Lò Văn Qu đi bộ từ nhà sang nhà Quàng Văn Th chơi. Khi Qu và Th đang ngồi nói chuyện thì có một nam thanh niên tên Qu (nhà ở huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La ) gọi điện thoại cho Th và nhờ mua hộ một lượng ma túy (02 viên hồng phiến và một lượng heroine ) với số tiền 240.000 đồng và hẹn gặp Th ở ngã ba Bản Hợp Thành, xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu.

Th đồng ý điều khiển xe mô tô BKS: 26H6-7644 ra địa điểm đã hẹn để nhận tiền. Lấy được tiền, Th điều khiển xe mô tô quay về nhà và rủ Qu đi vào khu vực Bản Lọng Cại, xã Thôm Mòn tìm mua ma túy, Qu đồng ý đi. Khi đến đầu Bản Lọng Cại, Th bảo Qu xuống xe đứng đợi, còn Th điều khiển xe mô tô vào trong bản. Khi Th đi được khoảng 50 m thì gặp và hỏi mua của một người nữ dân tộc Thái (Th không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) đang đứng trên đường liên bản được một lượng ma túy gồm 02 viên hồng phiến, một lượng heroine được gói bằng nilon màu trắng với giá 170.000 đồng, Th cầm gói ma túy ở trên tay, rồi điều khiển xe đến đón Qu về, trên đường về Th và Qu đi vào bụi cây ven đường, Th mở gói ma túy vừa mua được, san một ít heroine ra cùng nhau sử dụng. Sử dụng xong, Th gói số ma túy còn lại bằng nilon màu trắng, rồi cho vào trong bao thuốc lá, nhãn hiệu Thăng Long đưa cho Qu cầm về. Th tiếp tục điều khiển xe mô tô chở Lò Văn Qu ra ngã ba Bản Hợp Thành, xã Thôm Mòn để đưa ma túy cho nam thanh niên tên Qu (nhà ở huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La). Khi Th, Qu vừa đến khu vực Bản Hợp Thành, xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu thì bị Tổ công tác Công an huyện Thuận Châu phát hiện bắt quả tang thu giữ số vật chứng.

Tại bản cáo trạng số: 99/CT-VKS ngày 09/8/2019, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu truy tố các bị cáo Quàng Văn Th, Lò Văn Qu phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo Quàng Văn Th, Lò Văn Qu đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố các bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Quàng Văn Th, Lò Văn Qu phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự Xử phạt bị cáo Quàng Văn Th từ 15 đến 20 tháng tù.

Xử phạt bị cáo Lò Văn Qu từ 15 đến 20 tháng tù Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy: Một mảnh ni lon màu trắng, một vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước của bị cáo Quàng Văn Th: Một chiếc xe mô tô nhãn hiệu ROONEY, loại xe Wave, biển số đăng ký: 26H6-7644; Một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu DOPOD; Tiền ngân hàng Việt Nam 70.000 đồng.

Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng, các bị cáo Quàng Văn Th, Lò Văn Qu thừa nhận hành vi phạm tội của mình; nhất trí với việc xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát , đề nghị Hội đồng xét xư xem xet giam nhe hinh phat cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về nội dung: Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 07/5/2019, tại khu vực bản Hợp Thành, xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu các bị cáo Quàng Văn Th, Lò Văn Qu đã có hành vi cất giữ trái phép 0,34 gam ma túy (trong đó 0,11 gam chất heroine và 0,23 gam chất methamphetamine) trong người thì bị tổ công tác Đội hình sự - Ma túy Công an huyện Thuận Châu, làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.

Tại phiên tòa các bị cáo Quàng Văn Th, Lò Văn Qu giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, các bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Lời khai của bị cáo phù hợp với:

Lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang ngay vào hồi 13 giờ ngày 07/5/2019, bản kết luận giám định số 869/KLMT ngày 09/5/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La cùng các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

[3] Từ các căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận hành vi cất giữ trái phép 0,34 gam Heroine trong người với mục đích để sử dụng của các bị cáo Quàng Văn Th, Lò Văn Qu đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đây là vụ án có đồng phạm vì vậy cần xem xét đến tính chất, vai trò của từng bị cáo để lên cho mỗi bị cáo mức án phù hợp với hành vi phạm tội của các bị cáo: Đối với bị cáo Quàng Văn Th là người khởi xướng, rủ Lò Văn Qu đi mua ma túy nên Quàng Văn Th giữ vai trò chính trong vụ án Đối với bị cáo Lò Văn Qu là người bị rủ rê, lôi kéo nhưng đã thực hiện hành vi phạm tội một cách tích cực nên phải chịu trách nhiệm cho hành vi mà mình gây ra. Cần áp dụng Điều 58 Bộ luật Hình sự để cá thể hóa hình phạt đối với các bị cáo.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo Quàng Văn Th, Lò Văn Qu thuôc trương hơp nghiêm trong, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Do đó cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm răn đe giáo dục đối với bị cáo, trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo Quàng Văn Th không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu; bị cáo Lò Văn Qu có nhân thân xấu, năm 2002 bị Tòa phúc thẩm, tòa án nhân dân tối cao xử phạt 03 năm tù, về Tội cố ý gây thương tích (đã được xóa án tích).

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Các bị cáo đang bị tạm giam, cần tiếp tục giam giữ bị cáo trong hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự

[5] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Xét thấy các bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng.

[6] Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Quàng Văn Th, Lò Văn Qu khai là mua của một người phụ nữ dân tộc thái (Không biết họ tên và địa chỉ cụ thể), địa điểm mua là ở bản Lọng Cại, xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu, Th mua hết số tiền 170.000 đồng. Do không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người phụ nữ nên Cơ quan điều tra Công an huyện Thuận Châu không có căn cứ để làm rõ, mở rộng vụ án, cần chấp nhận.

[7] Vật chứng vụ án:

Đối với vật chứng 01 (một) mảnh ni lon màu trắng + một vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu được niên phong trong phong bì thư có viền xanh đỏ, là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với vật chứng 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu DOPOD; Tiền ngân hàng Việt Nam 70.000 đồng (Bảy mươi nghìn đồng), là tài sản của bị cáo Quàng Văn Th, bị cáo đã dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với các vật chứng 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu ROONEY, loại xe Wave, biển số đăng ký 26H6-7644, chiếc xe bị cáo Th sử dụng làm phương tiện phạm tội.

Xét thấy chiếc xe máy BKS 26H6 – 7644 là tài sản chung của vợ chồng Quàng Văn Th và chị Lò Thị Inh, việc bị cáo Th sử dụng làm phương tiện phạm tội chị Inh không biết, chiếc xe máy là tài sản duy nhất của gia đình do đó cần trả là cho chị Lò Thị Inh, cần trả lại cho chị Lò Thị Inh, căn cứ điểm a khoản 3 điều 106 bộ luật tố tụng hình sự.

[8] Về án phí: Buộc bị cáo Quàng Văn Th, Lò Văn Qu phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự:

1. Tuyên bố bị cáo Quàng Văn Th, Lò Văn Qu phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Quàng Văn Th 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 07-5-2019).

Xử phạt bị cáo Lò Văn Qu 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 07-5-2019).

Các bị cáo đang bị tạm giam, cần tiếp tục giam giữ các bị cáo trong hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: Một phong bì thư niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, ngoài ghi: Vật chứng giám định vụ Lò Văn Qu + Đp – Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 07/5/2019, một mảnh ni lon màu trắng + một vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước của bị cáo Quàng Văn Th: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu DOPOD, mặt sau bằng nhựa màu xanh, viền kim loại màu bạc, mặt bàn phím nhựa màu trắng và xanh, số IMEI 1: 358334060806586, số IMEI 2: 358334060806594, đã qua sử dụng cũ; Tiền ngân hàng Việt Nam 70.000 đồng (Bảy mươi nghìn đồng).

Trả lại cho chị Lò Thị Inh 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu ROONEY, loại xe Wave, biển số đăng ký 26H6-7644, số khung 010234, số máy không xác định được, xe đã qua sử dụng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/8/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Thuận Châu và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Châu).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14: Buộc các bị cáo Quàng Văn Th, Lò Văn Qu phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, mỗi bị cáo 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 BLTTHS. Các bị cáo Quàng Văn Th, Lò Văn Qu được quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lò Thị Inh có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo phần liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 28/8/2019).


36
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 101/2019/HS-ST ngày 28/08/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:101/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuận Châu - Sơn La
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 28/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về