Bản án 101/2017/HSST ngày 02/08/2017 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

BẢN ÁN 101/2017/HSST NGÀY 02/08/2017 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH ĐKPTGTĐB

Trong ngày 02 tháng 8 năm 2017 tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 82/2017/HSST ngày 12 tháng 6 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Bá Kh - Tên gọi khác: Không ;

Sinh ngày 27/8/1991; tại huyện K, tỉnh Hưng Yên;

Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn H, xã L, huyện K, tỉnh Hưng Yên;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Đoàn thể: Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam; Đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số 28- QĐ/KT ngày 14/6/2017 của Ủy ban kiểm tra huyện ủy huyện K, tỉnh Hưng Yên.

Họ và tên bố: Nguyễn Tiến Th - sinh năm 1963; Họ và tên mẹ: Phạm Thị Ch - sinh năm 1962; Vợ, con: Chưa có;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị can đầu thú ngày 28/3/2017, bị tạm giữ đến ngày 04/4/2017 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo hiện tại ngoại nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

*Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Bùi Thanh Vân, sinh năm 1969 – Công ty Luật TNHH 4.1 và cộng sự, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội- có mặt tại phiên tòa.

*Người bị hại: Ông Lê Quang Đ (đã chết).

*Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Anh Lê Thế C , sinh năm 1982; trú tại: Tổ T, khu I, phường L, thành phố D- có mặt.

*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Văn T, sinh năm 1987; trú tại: Đội T, thôn L, xã K, huyện G, tỉnh Hưng Yên , có mặt tại phiên tòa.

NHẬN THẤY

Bị cáo Nguyễn Bá Kh  bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Nguyễn Bá Kh (có giấy phép lái xe hạng C) lái xe thuê cho công ty cổ phần dịch vụ thương mại T. Ngày 28/3/2017 Kh  được phân công điều khiển xe ô tô biển số 89C – 101.03 của công ty T chở hàng từ thành phố H tỉnh Quảng Ninh về tỉnh Hưng Yên. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, Kh điều khiển xe đi hướng Tiên Yên – Hạ Long, đến đoạn đường Quốc lộ 18A thuộc tổ 1, khu Bình Sơn, phường C, thành phố D, là đoạn đường một chiều, có dải phân cách cố định giữa đường, có biển báo người đi bộ qua đường, có công trình công cộng tập trung nhiều người (chợ) và có lối quay đầu xe. Kh điều khiển xe đi trên làn đường sát dải phân cách, với vận tốc khoảng 48 Km/h. Lúc này, ông Lê Quang Đ (sinh năm 1928, trú tại tổ 7, khu Bình Sơn, phường C, thành phố D) đi bộ qua đường nơi dành cho người đi bộ từ bên phải sang bên trái theo chiều Tiên Yên – Hạ Long. Do không chú ý quan sát, nên khi xe của Kh đã đến gần vị trí ông Đ sang đường thì Kh mới phát hiện thấy ông Đ trên đường. Kh điều khiển xe sang trái để tránh và xử lý phanh nhưng không kịp, phần đầu bên phải xe ô tô do Kh điều khiển đã đâm vào ông Lê Quang Đ, làm ông Đ bị ngã xuống đường. Hậu quả: ông Đ bị tử vong trên đường đi cấp cứu.

Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện: Đoạn đường xảy ra vụ tai nạn là đoạn đường nhựa, có dải phân cách cố định ở giữa, mặt đường rộng 9,5m, có khoảng rộng 16m là lối quay đầu xe. Bên phải đường hướng Tiên Yên – Hạ Long có chợ, nơi giao nhau với ngõ 237, 446, có biển báo người đi bộ (biển số 423B) cách đầu dải phân cách cố định 4,5m, nhưng chưa có vạch kẻ đường dành chongười đi bộ do mặt đường đang nâng cấp, cải tạo. Mốc xác định trục bánh trước bên phải xe ô tô biển số 89C – 101.03 cách mép ngõ 446 là 1,8m. Các số đo dấu vết, phương tiện được lấy vào mép đường bên trái chiều Tiên Yên - Hạ Long (tiếp giáp giải phân cách cố định) như sau:

+(1) Xe ô tô biển số 89C-10103 đỗ đầu quay hướng đi Cẩm Đông hơi chếch mép đường bên trái. Trục bánh trước bên trái cách mép đường 0,84m, trục bánh sau bên trái cách mép đường 1,17m.

+ (2) Vị trí chiếc dép bên phải cách mép đường 2,4m, cách trục bánh trước bên phải xe ô tô là 1,4m.

+ (3) Vị trí chiếc dép bên trái cách mép đường 2,8m, cách trục bánh sau bên trái 2,9m.

+ (4) Vị trí vết phanh dài 5,4m, đầu vết cách mép đường 1,6m, cách chân cột biển báo 423B là 17,8m, cách đầu vết phanh (4) là 5,3m.

+(5) Vị trí vết phanh dài 10.6m, đầu vết cách mép đường 3,1m, cuối vết trùng tâm trục bánh sau bên phải xe ô tô.

+ (6) Vết máu diện 80,40cm, tâm cách mép đường 2,95m, cách trục bánh trước bên trái xe ô tô 5,5m.

Kết quả khám nghiệm xe ô tô biển số 89C-101.03 xác định: Ốp đầu xe phía trước bên phải có vết tỳ móp bẹp, chiều từ trước về sau, kích thước (50x40)cm, tâm cách đất 1,3m, cách mép bên phải đầu xe 40cm; Mặt ốp ga lăng phía trước bên phải nứt vỡ, chùi sạch bụi, kích thước (50x30)cm, điểm thấp nhất cách đất 80cm và cách mép bên phải đầu xe 42cm; Đèn pha phía trước bên phải bị nứt vỡ.

Xe ô tô BKS 89C-10103 bị hư hỏng nhẹ, thiệt hại trị giá 6.000.000 đồng.

Tại biên bản khám nghiệm tử thi ngày 28/3/2017 và Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 35/2017/GĐPY ngày 30/3/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: Ông Lê Quang Đ tử vong do chấn thương sọ não.

Nguyên nhân xảy ra tai nạn: Do Nguyễn Bá Kh điều khiển xe ô tô không chú ý quan sát, không nhường đường cho người đi bộ, không giảm tốc độ để đảm bảo an toàn khi qua nơi đường giao nhau, khu vực có công trình công cộng tập trung nhiều người (chợ) đã vi phạm Khoản 4 Điều 11, Khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ; các Khoản 3, Khoản 5 Điều 5 Thông tư số 91 ngày 31/12/2015 của Bộ giao thông vận tải, quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ.

Tại bản cáo trạng số 89/KSĐT – HS ngày 06/6/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố Nguyễn Bá Kh về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” quy định tại Khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị: Áp dụng Khoản 1 Điều 202; Điểm b,p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46; Khoản 1, Khoản 2 Điều 60 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện K, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng Khoản 1 Điều 69 Luật thi ành án hình sự. Do hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề đối với bị cáo.

Áp dụng Khoản 2 Điều 41 Bộ luật hình sự; Điểm b Khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự. Trả lại cho bị cáo một giấy pháp lái xe mang tên Nguyễn Bá Kh.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Bá Kh đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả là cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm b,p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46 và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo quy đinh tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 60 Bộ luật hình sự và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Ngoài  ra còn đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc và xem xét thêm về hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn, bị cáo có lý lịch trong sạch, nhân thân tốt.

Tại phiên tòa, bị cáo Khải thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, rất ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác...

XÉT THẤY

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Bá Kh khai báo có nội dung: Kh có giấy phép lái xe hạng C và ký hợp đồng lái xe thuê cho Công ty cổ phần dịch vụ thương mại T địa chỉ tại đội 5, xã Vĩnh Khúc, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên  do ông Phạm Văn T làm giám đốc kể từ ngày 01/01/2017 trong thời hạn 01 năm và được phân công điều khiển xe ô tô biển số 89C – 101.03 của Công ty T chở hàng từ thành phố H tỉnh Quảng Ninh về tỉnh Hưng Yên. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 28/3/2017, Khải điều khiển xe ô tô biển số 89C-101.03 đi hướng Tiên Yên – Hạ Long, đến đoạn đường Quốc lộ 18A thuộc tổ 1, khu Bình Sơn, phường C, thành phố D xe chạy với tốc độ 48km/h, xe Kh đi cách xe trước cùng chiều khoảng 6-7m cùng lúc đó Kh nghe thấy tiếng còi phía sau xe và quan sát gương chiếu hậu bên phải phát hiện có 01 xe ô tô khách 24 chỗ ngồi đang xin vượt làn trong, sau đó Kh quay mặt lại nhìn về phía trước thì phát hiện ông Lê Quang Đ đang đi bộ từ bên phải sang bên trái theo chiều xe của Kh cách đầu xe của Kh khoảng 2 mét và cách đầu giải phân cách cứng về phía Hạ Long khoảng hơn 1 mét, lúc này xe của Kh đang chạy sát giải phân cách. Kh đã xử lý phanh chân xong không kịp lên đầu xe ô tô bên phải đã đâm vào người ông Đ và đẩy đi một đoạn trên mặt đường về phía phường Cẩm Đông khoảng 5 mét và bị cáo dừng xe lại  sau đó gọi xe đưa ông Đ đi cấp cứu còn bị cáo lên Công an đầu thú. Hậu quả ông Lê Quang Đ bị tử vong trên đường đi cấp cứu. Ngoài ra bị cáo còn khai trước thời gian xảy ra tai nạn bị cáo đã điều khiển xe ô tô 89C-101.03 qua đoạn đường này nhiều lần và có biết đoạn đường đang nâng cấp thi công cải tạo, có chợ, tại nơi xảy ra tai nạn trước đó bị cáo không để ý có biển báo chỉ sau khi tai nạn xong bị cáo mới để ý là có nơi giao nhau với ngõ 237,446, có biển báo dành cho người đi bộ (biển số 423B) cách dải phân cách cố định 4,5m, nhưng chưa có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ do mặt đường đang nâng cấp, cải tạo. Sự việc xảy ra làm chết ông Đ là do lỗi của bị cáo điều khiển xe chủ quan không quan sát hết và không chấp hành biển báo dành cho người đi bộ qua đường.

Tại phiên tòa, anh Phạm Văn T có lời khai phù hợp với lời khai của Kh về thời gian ký hợp đồng với công ty T, công việc Kh được giao vào ngày 28/3/2017 và được cơ quan điều tra trả lại phương tiện là chiếc xe ô tô tải biển số   89C- 101.03; về số tiền 6.000.000 đồng do sửa chữa xe ô tô, vì điều kiện gia đình Kh khó khăn nên công ty không yêu cầu Kh phải bồi thường số tiền trên. Việc xảy ra tai nạn như thế nào thì anh không trực tiếp biết chỉ  khi Kh điện thoại về công ty thì anh mới biết Kh đã gây ra tai nạn

Người đại diện hợp pháp của người bị hại anh Lê Thế C có lời khai: Anh là cháu nội của ông Lê Quang Đ và được gia đình ủy quyền cho anh giải quyết sự việc, còn việc xảy ra tai nạn đối với ông Đ như thế nào thì anh không trực tiếp biết mà chỉ nghe thấy mọi người kể lại ông Đ đi qua đường và bị ô tô đâm sau đó bị tử vong trên đường đi cấp cứu. Về phần dân sự gia đình bị cáo Kh đã bồi thường cho gia đình anh số tiền 50.000.000 đồng, gia đình anh đã có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình phạt cho bị cáo Kh vì vậy giữa hai gia đình đã giải quyết xong phần dân sự. Tại phiên tòa anh không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Hội đồng xét xử đánh giá lời khai của bị cáo, lời khai người đại diện hợp pháp cho người bị hại; lời khai của người làm chứng cơ bản phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm xảy ra vụ tai nạn, phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, kết quả khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông, biên bản khám nghiệm tử thi ...Để xác định nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn là do Nguyễn Bá Kh điều khiển xe ô tô biển số 89C-101.03 không chú ý quan sát, không chấp hành hệ thống biển báo đường bộ (biển báo số 423B), không giảm tốc độ tối đa cho phép qua khu vực có công trình công cộng tập trung nhiều người và qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức, không nhường đường cho người đi bộ nên đã vi phạm quy định tại Điều 11 mục 4, Điều 12 Luật giao thông đường bộ và vi phạm Thông tư số 91/2015/TT-BGTVT ngày 31/12/2015 của Bộ giao thông vận tải quy định tại Điều 5 các trường hợp phải giảm tốc độ quy định tại mục 3, mục 5 của thông tư.

Với các chứng cứ nêu trên, kết hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 28/3/2017, tại đoạn đường Quốc lộ 18A thuộc tổ 1, khu Bình Sơn, phường C, thành phố D, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Bá Kh đã có hành vi điều khiển xe ô tô biển số 89C-101.03 không chú ý quan sát, không nhường đường cho người đi bộ, không giảm tốc độ để đảm bảo an toàn khi qua nơi đường giao nhau, khu vực có công trình công cộng tập trung nhiều người nên đã đâm vào ông Lê Quang Đ đang đi bộ qua đường, làm ông Đ bị tử vong trên đường đi cấp cứu.

Hành vi nêu trên của bị cáo Kh đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 điều 202 Bộ luật hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tuy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự, đã xâm phạm an toàn, trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây tổn hại đến tính mạng của công dân. Bị cáo là người đã trưởng thành, là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam bị cáo nhận thức được hành vi của mình ngoài ra bị cáo đã được học luật giao thông đường bộ và được cấp giấy phép lái xe theo quy định. Bị cáo hiểu rất rõ khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông phải chú ý quan sát các biển báo, phải nhường đường cho người đi bộ, phải giảm tốc độ để đảm bảo an toàn khi qua nơi đường giao nhau, khu vực có công trình công cộng tập trung nhiều người. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây nên Hội đồng xét xử thấy cần có mức hình phạt nghiêm để trừng trị hành vi phạm tội của bị cáo và làm gương cho người khác.

Tuy nhiên cũng cần xem xét cho bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội, có nơi cư trú rõ ràng. Sau khi phạm tội đã ra đầu thú, khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đã tác động đến gia đình thăm hỏi, bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại và được gia đình người bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự. Vì vậy được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các Điểm b, p Khoản 1 Điều 46, Khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Xét thấy chưa cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Do hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề đối với bị cáo.

Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, p khoản 1, khoản 2 điều 46 và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án  treo quy đinh tại khoản 1 khoản 2 điều 60 Bộ luật hình sự và không áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy có có căn cứ pháp luật nên lời đề nghị của người bào chữa được chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra, bị cáo đã cùng gia đình bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 50.000.000 đồng. Nay gia đình người bị hại không yêu cầu bồi  thường gì thêm, công ty cổ phần dịch vụ thương mại T không yêu cầu bị cáo Kh phải bồi thường số tiền mà công ty đã sửa chữa xe ô tô nên không đề cập giải quyết.

Về vật chứng: Quá trình điều tra, cơ quan điều tra Công an thành phố Cẩm Phả đã trả chiếc xe ô tô tải biển số 89C-101.03 cho Công ty cổ phần dịch vụ thương mại T nên không đề cập giải quyết.

Đối với giấy phép lái xe số 310168871001 mang tên Nguyễn Bá Kh do sở giao thông vận tải  thành phố Hải Phòng cấp ngày 04/10/2016 xét thấy đây là giấy tờ tùy thân của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Bá Kh phạm tội “ Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 202; Điểm b,p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46; Khoản 1, Khoản 2 Điều 60 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Bá Kh 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện K, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng khoản 1 điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Áp dụng: Khoản 2 điều 41 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại cho bị cáo 01 (một) giấy phép lái xe số 310168871001 mang tên Nguyễn Bá Kh do sở giao thông vận tải thành phố Hải Phòng cấp ngày 04/10/2016.

Căn cứ khoản 1, khoản 2 điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc Nguyễn Bá Kh phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công  khai có mặt bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.


71
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về