Bản án 100/2020/HS-ST ngày 06/05/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T H, TỈNH T H

BẢN ÁN 100/2020/HS-ST NGÀY 06/05/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 06 tháng 5 năm 2020 tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố T H, tỉnh T H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 104/2020/TLST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2020/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2020 đối với bị cáo:

Nhữ Ngọc M - tên gọi khác: Không; sinh năm 1987 tại TH; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Xóm T, xã K, huyện Đ, tỉnh TH; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Nhữ Văn Đ (đã chết) và con bà Đỗ Thị N, sinh năm 1960; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Tại bản án số 44/2005/HSST ngày 29/11/2005 Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo ra trại ngày 29/4/2010. Nộp án phí ngày 28/8/2007.

Hiện bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh TH từ ngày 09/01/2020 cho đến nay. (Có mặt tại phiên tòa)

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Nhữ Thị Huyền N1, sinh năm 1984 – trú tại xóm P, xã C, thành phố TH, tỉnh TH (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Người chứng kiến: Ông Ngô Minh Đ, sinh năm 1962 - trú tại tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố TH (Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 19 giờ 15 phút ngày 09/01/2020 tổ công tác Công an phường Đ, thành phố TH làm nhiệm vụ tại tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố TH thì phát hiện một nam thanh niên điều khiển xe môtô BKS 20L2 -9930 có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra thì nam thanh niên này thả 02 gói giấy bạc màu vàng từ lòng bàn tay trái của mình xuống dưới đất tại vị trí nam thanh niên đang đứng. Nam thanh niên khai tên là Nhữ Ngọc M và tự giác nhặt hai gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng nộp cho tổ công tác. M khai hai gói giấy bạc đó là ma túy Heroine vừa mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với M và niêm phong vật chứng theo quy định.

Cùng ngày tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của Nhữ Ngọc M có khối lượng 0,189 gam niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định.

Tại bản Kết luận giám định số 213/KL -KTHS ngày 17/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TH kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu M1 gửi giám định là chấtma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,189 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Nhữ Ngọc M khai nhận: Khoảng 18 giờ ngày 09/01/2020, M điều khiển xe môtô BKS 20L2-9930 từ nhà tới khu vực cầu Gia Bẩy thuộc tổ dân phố G, phường Đ để mua ma túy về sử dụng. M đã mua 02 gói ma túy là Heroine được gói bằng giấy bạc màu vàng giá 200.000đ của một người đàn ông không quen biết. Sau đó M cầm 02 gói ma túy trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe môtô đến khu vực tổ dân phố Đ, phường Đ mục đích tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường Đ phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng theo quy định.

Vật chứng của vụ án gồm:

+ 01 (một) bì niêm phong ký hiệu M1.

+ 01 xe môtô nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius màu xanh trắng có BKS 20L2 -9930, số khung RLCS3S31105Y006500, số máy 3S31 -006500, xe đã qua sử dụng. Xác định là xe của chị Nhữ Thị Huyền N1 sinh năm 1984, trú tại xóm P, xã C, thành phố TH nên cơ quan điều tra đã trả lại cho chị N1 quản lý và sử dụng.

Bản Cáo trạng số 111/CT -VKSTPTN ngày 10 tháng 3 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH đã truy tố bị cáo Nhữ Ngọc M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa, Nhữ Ngọc M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến.

Trong lời luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH sau khi tóm tắt nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nhữ Ngọc M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt Nhữ Ngọc M từ 24 đến 30 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì niêm phong ký hiệu M1. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không tranh luận, thừa nhận việc truy tố và xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là không oan, đúng người, đúng tội.

Phần lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quyết định, hành vi tố tụng của các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đều hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố, lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay là hoàn toàn tự nguyện, khách quan và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản cân xác định khối lượng, biên bản mở niêm phong vật chứng, lời khai của những người tham gia tố tụng khác, vật chứng thu giữ, kết luận giám định. Như vậy, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định:

Khoảng 19 giờ 15 phút ngày 09/01/2020, tại khu vực tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố TH, Nhữ Ngọc M có hành vi tàng trữ 0,189 gam Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng.

Hành vi trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS

Nội dung điều luật:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

a, b...

c, Heroine... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05gam.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất mức độ của hành vi phạm tội là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi ma túy hủy hoại sức khỏe con người, là nguyên nhân phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước.

[4] Xét về nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử thấy: Năm 2005, bị cáo Nhữ Ngọc M đã bị Tòa án nhân dân tỉnh S xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo ra trại ngày 29/4/2010. Song bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục lao vào con đường nghiện hút. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xét xử nghiêm minh để đảm bảo tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS. Hội đồng xét xử cân nhắc hình phạt cho bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt tù, lẽ ra bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 BLHS. Tại phiên tòa xác định bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, mua ma túy về sử dụng không mang tính chất vụ lợi. Hội đồng xét xử xem xét không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Vật chứng của vụ án: Cần tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì niêm phong ký hiệu M1 bên trong chứa ma túy và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định, mặt sau bì có 02 dấu tròn của phòng KTHS – Công an tỉnh TH và các chữ ký của Trần Đức T, Ma Nhật A.

[7] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[8] Về nguồn gốc số Heroin bị thu giữ, bị cáo khai mua của một người đàn ông không rõ lai lịch, địa chỉ tại khu vực cầu G thuộc tổ dân phố G, thành phố TH. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân của người này, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TH không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý.

+ Đối với chị Nhữ Thị Huyền N1 là người cho Nhữ Ngọc M mượn chiếc xe môtô nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius màu xanh trắng có BKS 20L2 -9930, xe đã qua sử dụng, nhưng chị N1 không biết bị cáo sử dụng chiếc xe trên vào mục đích phạm tội. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu quản lý và sử dụng và không xử lý chị Nhữ Thị Huyền N1 là phù hợp.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự Tuyên bố: Bị cáo Nhữ Ngọc M phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"

2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS.

Xử phạt: Bị cáo Nhữ Ngọc M 24(Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2020.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

3. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì niêm phong ký hiệu M1 bên trong chứa ma túy và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định, mặt sau bì có 02 dấu tròn của phòng KTHS – Công an tỉnh TH và các chữ ký của Trần Đức T, Ma Nhật A.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận số 181 ngày 04/3/2020 giữa Công an thành phố TH với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố TH)

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nhữ Ngọc M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Báo cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhânh được bản án hoặc bản án được niêm yết.


12
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 100/2020/HS-ST ngày 06/05/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:100/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thanh Hóa - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:06/05/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về