Bản án 100/2018/HSST ngày 31/07/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN TX, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 100/2018/HSST NGÀY 31/07/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Hôm nay, ngày 31 tháng 7 năm 2018 Toà án nhân dân Quận TX xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 84/2018/HSST ngày 05 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Xuân N; Sinh năm: 1996; Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; HKTT: Xã LX, Huyện TL, Tỉnh Hưng Yên; Chỗ ở: Thôn PX, Xã LX, Huyện TL, Tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Thế C (sinh năm:1968); Con bà: Đồng Thị N (sinh năm: 1972); Tiền án, tiền sự: Không; Danh chỉ bản 97 ngày 09/2/2018 do Công an Quận TX lập; Tạm giữ: 08/2/2018; Hủy bỏ tạm giữ:10/2/2018; Bị cáo Nguyễn Xuân N đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại Xã LX, Huyện TL, Tỉnh Hưng Yên; Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Phạm Văn Đ; Sinh năm: 1993; Tên gọi khác: Không.Giới tính: Nam; HKTT: Thôn QT, Xã VS, Huyện KX, Tỉnh Thái Bình; Chỗ ở: Thôn QT, Xã VS, Huyện KX, Tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Phạm Văn Đ. (sinh năm: 1955); Con bà: Nguyễn Thị D. (sinh năm: 1963); Tiền án, tiền sự: Không; Danh chỉ bản 96 ngày 09/2/2018 do Công an Quận TX lập; Tạm giữ: 08/2/2018. Hủy bỏ tạm giữ: 10/2/2018; Bị cáo Nguyễn Xuân N đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại Thôn QT, Xã VS, Huyện KX, Tỉnh Thái Bình; Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Khoảng 23h30’ ngày 07/2/2018, tổ công tác Y3/141 – CATP Hà Nội phối hợpcùng công an phường KT, TX, Hà Nội đang làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa số nhà35 NT, KT, TX, Hà Nội phát hiện Phạm Văn Đ đang điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Winner màu đỏ đen BKS: 29V1 – 397.99 chở Nguyễn Xuân N có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, N tự giác lấy từ trong túi áo khoác phía ngoài bên trái đang mặc của N 01 túi nilong màu trắng kích thước03x03cm, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng đồng thời N khai nhận là ma túy “đá” mà N và Đ mua về để sử dụng. Tổ công tác Y3/141 đã tiến hành bàn giao N và Đ cùng toàn bộ tang vật cho công an phường KT để xác minh làm rõ.

Cơ quan công an đã thu giữ của Nguyễn Xuân N: 01 túi nilong màu trắng kíchthước 03x03 cm bên trong chứa tinh thể màu trắng.Cơ quan công an đã thu giữ của Phạm Văn Đ: 01 xe máy nhãn hiệu HondaWinner màu đỏ đen BKS 29V1 – 397.99.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Xuân N và Phạm Văn Đ khai nhận hành vi phạm tội như sau: Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 07/2/2018 sau khi liên hoan cùng bạn bè, N và Đ nảy sinh ý định góp tiền mua ma túy đá về để sử dụng chung. Sau khi thống nhất N góp số tiền là 300.000 đồng, Đ góp số tiền 200.000 đồng, Đ điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Winner màu đỏ đen BKS: 29V1 - 397.99 chở N xuống khu vực CT, HĐ, Hà Nội để tìm mua ma túy. Tại đây N cầm tiền và mua của 01 người đàn ông không quen biết 01 túi nilong bên trong chứa các hạt tinh thể trắng là ma túy đá hết 500.000 đồng rồi cất giấu vào túi áo khoác đang mặc. Sau đó, Đ chở N đi tìm nơi để sử dụng ma túy. Khi cả hai đi xe máy về đến trước cửa số nhà 35 NT, phường KT, TX, Hà Nội thì bị cơ quan công an phát hiện bắt giữ cùng toàn bộ tang vật.

Tại bản kết luận giám định số 1403A/KLGĐ – PC54 ngày 14/2/2018 của PhòngKỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hà Nội đã kết luận:

Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,659 gam.

Trong quá trình điều tra, truy tố, Nguyễn Xuân N và Phạm Văn Đ đã nhận thứcđược hành vi vi phạm pháp luật và đề nghị được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.Nguồn ma túy thu giữ, Nguyễn Xuân N và Phạm Văn Đ khai mua của một người quen biết ngoài xã hội nhưng N không biết rõ đầy đủ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nêncơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra làm rõ.

Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Winner màu đen – đỏ, BKS: 29V1 –397.99, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Vũ N D. Về ý thức chủ quan, khi cho Phạm Văn Đ mượn chiếc xe máy trên, anh D không biết việc Đ sử dụng chiếc xe để đi mua ma túy về để sử dụng. Do vậy, cơ quan điều tra không đề cập xử lý. Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe máy trên cho anh D.

Tại bản cáo trạng số 83/CT-VKS ngày 29/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân Quận TX truy tố Nguyễn Xuân N và Phạm Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự

Tại phiên toà hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát duy trì công tố giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử phạt bị cáo N và bị cáo Đ từ 15 đến 18 tháng tù. Tịch thu tiêu hủy 0,659g Methamphetamine thu giữ của các bị cáo. Vì các bị cáo không có việc làm nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249Bộ luật hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận TX, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận TX, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa tòa các bị cáo, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi hoặc quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận: Hai bị cáo là bạn bè quen biết ngoài xã hội. Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 07/2/2018 sau khi liên hoan cùng bạn bè, N và Đ nảy sinh ý định góp tiền mua ma túy đá về để sử dụng chung. Sau khi thống nhất N góp số tiền là 300.000 đồng, Đ góp số tiền 200.000 đồng, Đ điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Winner màu đỏ đen BKS: 29V1 – 397.99 chở N xuống khu vực CT, HĐ, Hà Nội để tìm mua ma túy. Tại đây N cầm tiền và mua của 01 người đàn ông không quen biết 01 túi nilong bên trong chứa các hạt tinh thể trắng là ma túy đá hết 500.000 đồng rồi cất giấu vào túi áo khoác đang mặc. Sau đó, Đ chở N đi tìm nơi để sử dụng ma túy. Khi cả hai đi xe máy về đến trước cửa số nhà 35 NT, phường KT, TX, Hà Nội thì bị cơ quan công an phát hiện bắt giữ cùng toàn bộ tang vật.

Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, được chứng minh bởi biên bản bắt người phạm tội quả tang, người làm chứng... và tang vật thu giữ được của vụ án được gửi đi giám định là Methamphetamine, khối lượng: 0,659 gam. Hai bị cáo nghiện ma túy thể hiện qua phiếu xét nghiệm nước tiểu của bị cáo cho kết quả dương tính, đã đủ cơ sở để khẳng định Phạm Văn Đ và Nguyễn Xuân N có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Tội và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đây là vụ án có đồng phạm nhưng giản đơn, vai trò của các bị cáo là như nhau.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội gây mất trật tự tại địa phương, xâm phạm tới độc quyền quản lý biệt dược của Nhà nước. Ma tuý là một hiểm hoạ mà cả nhân loại đang ra sức loại trừ khỏi đời sống xã hội, nó làm ảnh hưởng tới sức khoẻ và kinh tế gia đình, làm huỷ hoại nhân cách con người và còn là nguyên nhân dẫn đến nhiều tội phạm hình sự khác như trộm cắp, cướp giật... Ma tuý còn là nguyên nhân lây lan căn bệnh HIV/AIDS vô phương cứu chữa.

Các bị cáo là người đã trưởng thành, có nhận thức và khả năng làm chủ bản thân, buộc các bị cáo phải nhận thức được hành vi tàng trữ ma tuý, sử dụng ma túy là vi phạm pháp luật và nhận thức được tác hại của ma tuý để xa lánh nhưng các bị cáo vẫn cố tình vi phạm.

Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải có một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo. Cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện đồng thời mới có tác dụng răn đe phòng ngừa chung, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật đối với loại tội phạm về ma túy. Tuy nhiên, khi lượng hình hội đồng xét xử có xem xét các bị cáo khai báo thành khẩn ăn năn hối cải, nhân thân chưa có tiền án tiền sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Vì các bị cáo không có việc làm, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với hai bị cáo.

Về tang vật của vụ án: Tịch thu tiêu hủy tang vật là ma túy.

Quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch người bán ma túy choĐ và N. Do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý, nên HĐXX không xem xét. Vì các bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo.Các bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.

Từ những nhận định trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và 2 Điều 51; Điều 47 Bộ luật hình sự;

Áp dụng: Điều 106; 135; 331; 333; 336 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân N và bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân N 01 (một năm) 03 (ba) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 08/2/2018 đến ngày 10/2/2018.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn Đ 01 (một năm) 03 (ba) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 08/2/2018 đến ngày 10/2/2018.

Về tang vật của vụ án:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong dán kín bên ngoài có chữ ký của đối tượng Nguyễn xuân N, giám định viên Nguyễn Hoàng Hùng, người chứng kiến Phạm Đức Cường, Ngô Xuân Đại - Phó trưởng công an phường KT và có đóng dấu của công an phường KT, bên trong có 01 (một) túi nilon có chứa tinh thể màu trắng có khối lượng 0,659 gam Methamphetamine (đã lấy mẫu giám định).

Tang vật trên hiện đang thu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận TX theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/7/2018.

Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


36
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 100/2018/HSST ngày 31/07/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:100/2018/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Thanh Xuân - Hà Nội
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 31/07/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về