Bản án 09/2020/HS-ST ngày 13/01/2020 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 09/2020/HS-ST NGÀY 13/01/2020 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 13 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2019/HSST ngày 20/12/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2020/QĐXXST-HS ngày 03/01/2020 đối với các bị cáo:

1. Đỗ TA, sinh năm 1996.

HKTT: Khu 4, phường Y, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

Nghề nghiệp:Tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đỗ Hữu Đ, sinh năm 1973 và bà Ngô Thị T, sinh năm 1977; Gia đình bị cáo có bị cáo là con duy nhất; Vợ: Nguyễn Thùy D, sinh năm 1997; Con: 02 con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06/10/2019 đến nay. Có mặt tại phiên toà.

2. Đỗ Văn H, sinh năm 1997.

HKTT: Khu 5, phường X, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đỗ Văn V (Đã chết) và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1972; Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là thứ 02; Vợ, con: Chưa có;

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 24/12/2018 bị Công an phường X, thành phố Bắc Ninh xử phạt hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, hình thức xử phạt 1.500.000 đồng (Đã nộp phạt ngày 24/12/2018).

Nhân thân: Tại bản án HSST số 06/2015/HSST ngày 23/01/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” và 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Đã chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 24/6/2017.

Bị cáo bị bắt từ ngày 06/10/2019 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh đến nay. Có mặt tại phiên toà.

Bị hại: Ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1958. (Có đơn xin xử vắng mặt).

HKTT: Khu 6, phường X, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 23 giờ ngày 05/10/2019, Đỗ TA đến nhà Đỗ Văn H chơi, sau đó hai người bàn bạc xem nhà ai có hoa phong lan để sơ hở thì trộm cắp mang về chia nhau để trồng. Do H biết nhà ông T là hàng xóm của H có trồng rất nhiều hoa phong lan trên tầng 3 nên cả hai đã thống nhất ăn trộm các giò hoa lan này. H và TA đi lên tầng 3, H mở cửa lan can phía trước đứng ở lan can cảnh giới còn TA trèo qua lan can nhà H xuống mái nhà tầng 2 vào sân phơi nhà ông T. Tại đây, TA dùng tay tháo được 05 giò phong lan ông T treo trên các thanh sắt đặt ngang. TA cầm tay sách 01 giò lan Quế 04 ngọn dài 1,1m; 01 giò lan Quế 07 ngọn dài 90cm; 01 giò lan Hồ Điệp; 01 giò lan Vũ Nữ và 01 giò lan Cát đi theo lối cũ quay về nhà H thì làm rơi 02 giò lan xuống mái nhà ông T gây tiếng động làm ông T thức dậy. TA thấy nhà ông T bật điện, sợ bị phát hiện nên cầm 03 giò lan còn lại đi sang lan can tầng 3 nhà H và đưa cho H cất giấu trong nhà. TA trèo vào nhà H và đi về. Ngày 06/10/2019, tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh, H và TA đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Ngày 06/10/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh yêu cầu định giá 05 giò Lan T giữ được.

Tại bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số: 263/KL-HĐ ngày 06/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Bắc Ninh kêt luận: 01 giò lan Quế 04 ngọn dài 1,1m có trị giá 800.000 đồng; 01 giò lan Quế 07 ngọn dài 90cm trị giá 1.100.000 đồng; 01 giò lan Hồ Điệp trị giá 150.000 đồng; 01 giò lan Vũ Nữ trị giá 160.000 đồng và 01 giò lan Cát trị giá 190.000 đồng. Tổng trị giá tài sản 2.400.000 đồng.

Xử lý vật chứng: Ngày 08/10/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh đã trả lại tài sản là 05 giò hoa lan cho ông Nguyễn Xuân T.

Với nội dung trên, Cáo trạng số 04/CTr-VKSNDTPBN ngày 20 tháng 12 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh truy tố Đỗ TA và Đỗ Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự Quá trình xét hỏi tại phiên toà, các bị cáo TA và H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh duy trì quyền công tố, sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Đỗ TA và Đỗ Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1, Điều 173; Điểm s, i Khoản 1, Khoản 2, Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Đỗ TA từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Áp dụng Khoản 1, Điều 173; Điểm s Khoản 1, Khoản 2, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Đỗ Văn H từ 10 tháng đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/10/2019.

Trách nhiệm dân sự: Không. Vật chứng: Không.

Các bị cáo TA, H thừa nhận hành vi phạm tội như bản Cáo trạng truy tố là đúng, không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, ý kiến của các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ ngày 05/10/2019, tại khu 5, phường X, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh Đỗ TA và Đỗ Văn H đã có hành vi lén lút trộm cắp 05 giò hoa lan của ông Nguyễn Xuân T với tổng trị giá tài sản là 2.400.000 đồng.

Hành vi của các bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Cáo trạng truy tố các bị cáo Đỗ TA và Đỗ Văn H theo Khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Ngoài ra còn gây mất trật tự tại địa phương, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, tạo dư luận không tốt trên địa bàn. Do vậy cần có một hình phạt tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[2] Xét tính chất, vai trò: Trong vụ án này, các bị cáo TA và H cùng khởi xướng, TA là người trực tiếp thực hiện phạm tội còn H là người cảnh giới nên TA có vai trò cao hơn.

[3] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy: Bị cáo TA chưa có tiền án tiền sự, lần đầu phạm tội và Tộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo H là người có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án đưa ra xét xử và được cải tạo nhưng không tiến bộ, năm 2018 bị Công an phường X xử phạt hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Vì lòng tham của mình mà các bị cáo trộm cắp tài sản của người khác để thoả mãn nhu cầu cá nhân. Tuy nhiên tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tài sản các bị cáo trộm cắp đã được T hồi và trả lại cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên bị cáo H được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo TA được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s, i Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đối chiếu với các quy định pháp luật và xét đề nghị của Đại điện Viện kiểm sát thành phố Bắc Ninh là có căn cứ, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo H ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người tốt, biết tuân thủ pháp luật. Đối với bị cáo TA xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt nên không nhất thiết phải xử bị cáo bằng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

[5] Hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp, không có T nhập và tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa hôm nay, ông Nguyễn Xuân T xin vắng mặt, ông đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường nên không đặt ra xem xét.

[7] Xử lý vật chứng: Không.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Đỗ TA và Đỗ Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Căn cứ Khoản 1, Điều 173; Điểm s, i Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Đỗ TA 12(Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 13/01/2020.

Giao bị cáo TA cho UBND phường Y, thành phố Bắc Ninh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

- Căn cứ Khoản 1, Điều 173; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự;

Xử phạt bị cáo Đỗ Văn H 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/10/2019. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án 13/01/2020.

- Trách nhiệm dân sự: Không.

- Xử lý vật chứng: Không.

- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, Bị cáo TA và H mỗi người phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả bản án./.


17
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 09/2020/HS-ST ngày 13/01/2020 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:09/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Bắc Ninh - Bắc Ninh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 13/01/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về