Bản án 09/2020/HNGĐ-ST ngày 27/04/2020 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 09/2020/HNGĐ-ST NGÀY 27/04/2020 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON 

Ngày 27 tháng 4 năm 2020, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 11/2020/TLST-HNGĐ, ngày 14 tháng 01 năm 2020 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2020 (Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2020/QĐST-HNGĐ ngày 27/3/2020), giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị H, sinh năm 1997; nơi cư trú: Thôn 06, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng, có mặt.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn 14, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Lê Thị H trình bày:

Chị Lê Thị H và anh Nguyễn Văn T kết hôn với nhau tại Uỷ ban nhân dân xã H, huyện T ngày 31/12/2015. Trong quá trình chung sống, vợ chồng sống hoà thuận được khoảng 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T không chịu lao động rồi mắc nghiện ma túy, anh T còn đánh đập chị; gia đình đã khuyên bảo nhiều nhưng anh T không thay đổi. Từ tháng 9/2018 đến nay, chị H bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống, anh chị sống ly thân và không quan tâm đến nhau. Nay nhận thấy vợ chồng không thể đoàn tụ, chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Nguyễn Nhật M, sinh ngày 01/3/2016. Hiện nay, con đang ở với anh T và bố mẹ đẻ anh. Khi ly hôn, chị đề nghị Toà án giao con cho chị trực tiếp nuôi dưỡng; việc cấp dưỡng cho con chị xin tự giải quyết với anh T.

Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung, nên chị H không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 21 tháng 3 năm 2020, bị đơn là anh Nguyễn Văn T trình bày:

Về thời gian vợ chồng kết hôn cũng như thời gian chung sống hạnh phúc như chị Lê Thị H trình bày là đúng. Tuy nhiên, mâu thuẫn vợ chồng là do anh không có việc làm ổn định. Ngày 10/9/2018, vợ chồng xảy ra cãi nhau, anh có chửi và đuổi chị H nên chị đã bỏ về nhà mẹ đẻ; vợ chồng ly thân từ đó đến nay và không quan tâm đến nhau. Nay, chị H yêu cầu ly hôn, anh nhận thấy vợ chồng không đoàn tụ được anh cũng đồng ý ly hôn.

Về con chung, vợ chồng có 01 con như chị H trình bày là đúng. Khi ly hôn, vì chị H không quan tâm đến con nên anh yêu cầu Tòa án giao con cho anh trực tiếp nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng cho con, anh xin tự giải quyết với chị H.

Về tài sản chung; Vợ chồng không có tài sản chung.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của các đương sự như sau: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về: Thẩm quyền giải quyết; xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách của những người tham gia tố tụng; thu thập chứng cứ, xét xử vắng mặt bị đơn và các hoạt động tố tụng khác. Trình tự, thủ tục hỏi, tranh luận tại phiên tòa đã được Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định tại Chương XIV của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành nghiêm chỉnh yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án; bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình như: Không tham gia phiên họp, phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2.

Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị H: Xử cho chị H được ly hôn anh Nguyễn Văn T. Về con chung: Giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng con Nguyễn Nhật M, sinh ngày 01/3/2016. Việc cấp dưỡng cho con anh chị xin tự giải quyết. Về tài sản chung, anh chị không có tài sản chung, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không đặt ra để giải quyết. Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Chị Lê Thị H khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Văn T, hiện đang cư trú tại: Thôn 14, xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng.

[2] Bị đơn - anh Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để tham gia phiên tòa, nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh T.

- Về nội dung:

[3] Quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị H và anh Nguyễn Văn T được xác lập với nhau từ ngày 31/12/2015 là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống vợ chồng hoà thuận được khoảng 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T không chịu lao động rồi nghiện ma túy, chị H và gia đình đã khuyên bảo nhiều nhưng anh T không thay đổi. Từ tháng 9/2018 đến nay, do mâu thuẫn vợ chồng nên chị H bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống, vợ chồng ly thân và không quan tâm đến nhau. Nay chị Hà yêu cầu ly hôn, anh T cũng đồng ý ly hôn. Xét thấy, anh chị sống ly thân đến nay đã hơn 01 năm, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Như vậy, đã đủ căn cứ xác định tình trạng hôn nhân của anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, cho chị được ly hôn anh T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung: Anh chị có 01 con là Nguyễn Nhật M, sinh ngày 01/3/2016. Khi ly hôn, anh T và chị H đều yêu cầu được trực tiếp nuôi con và xin tự giải quyết việc cấp dưỡng cho con. Xét thấy, chị H có đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc con; anh T nghiện ma túy, không có việc làm, thu nhập; hiện nay con đang ở với anh T và bố mẹ đẻ anh nhưng chủ yếu là do bố mẹ anh T nuôi dưỡng, chăm sóc. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, căn cứ quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của chị H giao con cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng cho con, anh chị xin tự giải quyết nên để cho anh chị tự giải quyết với nhau là phù hợp.

[5] Về tài sản chung: Anh chị xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.

[6] Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, thì chị H phải chịu 300.000 đồng, án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 6; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án,

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

2. Về con chung: Giao cho chị Lê Thị H trực tiếp nuôi dưỡng con Nguyễn Nhật M, sinh ngày 01/3/2016; thời hạn nuôi con tính từ ngày 27/4/2020 cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng cho con, anh chị xin tự giải quyết với nhau.

Không ai được cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

3. Về án phí: Chị Lê Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, án phí ly hôn sơ thẩm. Chị H đã nộp 300.000 đồng, tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0011697 ngày 13/01/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng. Chị Hà đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, thông báo./

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

320
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 09/2020/HNGĐ-ST ngày 27/04/2020 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:09/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tiên Lãng - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 27/04/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về