Bản án 09/2020/HNGĐ-ST ngày 04/06/2020 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI

BẢN ÁN 09/2020/HNGĐ-ST NGÀY 04/06/2020 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 04 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 479/2019/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 23-4-2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Khánh H, sinh năm 1996 Địa chỉ: Số 36/1 đường N, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu Q, sinh năm 1992 Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 403 đường P, phường C, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

Nơi cư trú: Hẻm 830/1 đường Q, phường C, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

Chị H có mặt, anh Q vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

1 1. Tại đơn khởi kiện đề ngày 15-11-2019, đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 09- 12-2019 các tài liệu có tại hồ sơ và tại phiên tòa nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Khánh H trình bày:

Chị và anh Nguyễn Hữu Q sau thời gian tìm hiểu khoảng 01 năm thì tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 12-12-2017. Trong quá trình chung sống, anh Q không lo làm ăn mà còn có nhân tình bên ngoài, không quan tâm đến vợ con. Khoảng giữa năm 2018, anh Q đánh đập chị nhiều lần nên chị phải đưa con về nhà cha mẹ đẻ sinh sống cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, chị luôn mong anh Q thay đổi nhưng anh Q vẫn tính nào tật nấy và đến nhà mẹ chị đánh đập chị. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên chị yêu cầu được ly hôn anh Nguyễn Hữu Q.

Về con chung: Chị và anh Nguyễn Hữu Q có 01 con chung tên Nguyễn Khả H, sinh ngày 15-01-2016. Hiện nay, cháu H đang sống với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H, không yêu cầu anh Nguyễn Hữu Q cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

2. Bị đơn anh Nguyễn Hữu Q không có văn bản trình bày ý kiến.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ khi Tòa án thụ lý cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án nguyên đơn chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành đúng quy định tại khoản 16 Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 28, 35, 68, 203 khoản 4 Điều 147, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

+ Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Khánh H được ly hôn anh Nguyễn Hữu Q.

+ Về con chung: Giao cháu Nguyễn Khả H, sinh ngày 15-01-2016 cho chị Nguyễn Thị Khánh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Hữu Quí không cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không xem xét.

+ Về án phí: Chị Nguyễn Thị Khánh H phải chịu án phí theo quy định, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Bị đơn là anh Nguyễn Hữu Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Khánh H và anh Nguyễn Hữu Q tự nguyện đăng ký kết hôn và được UBND phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 12-12-2017 nên hôn nhân của chị H và anh Q là hợp pháp. Theo chị H trình bày nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Q có nhân tình bên ngoài, không quan tâm đến vợ con và đánh đập chị nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Chị và anh Q đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2018 cho đến nay. Tình cảm của chị với anh Q không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn đã trầm trọng nên không thể hàn gắn được nên chị yêu cầu được ly hôn anh Nguyễn Hữu Q. Theo xác nhận của Tổ trưởng tổ dân phố 4, phường T, thành phố Q tại đơn trình bày mâu thuẫn vợ chồng đề ngày 12-3-2020 của chị Nguyễn Thị Khánh H xác nhận những mâu thuẫn như chị H trình bày là đúng sự thật. Về phía anh Nguyễn Hữu Q, Tòa án đã làm đầy đủ các thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng cho anh Q theo đúng quy định của pháp luật nhưng anh Q không có văn bản trả lời và cũng không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của chị H. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Khánh H về việc yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Hữu Q.

[2.2] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Khánh H và anh Nguyễn Hữu Q có 01 con chung tên Nguyễn Khả H, sinh ngày 15-01-2016 đang sống với chị H. Xét yêu cầu nuôi con của chị H, Hội đồng xét xử thấy rằng: Cháu Nguyễn Khả H hiện đang sống chị H, hiện nay chị H đang làm quản lý tại Nhà hàng V, thu nhập bình quân hàng tháng là 8.000.000 đồng nên đủ điều kiện nuôi cháu H. Do đó, giao cháu Nguyễn Khả H cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị H không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Khánh H trình bày không có và anh Nguyễn Hữu Q không có văn bản trình bày ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, được chấp nhận.

[4] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Khánh H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về hôn nhân và gia đình, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, 235, 266, 271, 273 và Điều 278 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Khánh H và anh Nguyễn Hữu Q.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung tên Nguyễn Khả H, sinh ngày 15-01- 2016 cho chị Nguyễn Thị Khánh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Hữu Q không cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Khánh H trình bày không có và anh Nguyễn Hữu Q không có văn bản trình bày ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Khánh H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về hôn nhân và gia đình, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2018/0003083 ngày 09-12-2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


29
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 09/2020/HNGĐ-ST ngày 04/06/2020 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:09/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Quảng Ngãi - Quảng Ngãi
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:04/06/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về