Bản án 09/2020/DS-ST ngày 25/06/2020 về tranh chấp hụi

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VL, TỈNH BẠC LIÊU

BẢN ÁN 09/2020/DS-ST NGÀY 25/06/2020 VỀ TRANH CHẤP HỤI

Ngày 25 tháng 6 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện VL xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 13/2020/TLST-DS ngày 20 tháng 01 năm 2020 về tranh chấp Hụi, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2020/QĐXX-DS ngày 25 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trịnh Thu H, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Ấp Tân Qui 2, xã An Phú Tân, huyện CK, tỉnh Trà Vinh.

Chỗ ở hiện nay: Ấp Giồng Bướm A, xã Châu Thới, huyện VL, tỉnh Bạc Liêu.

Người đại diện theo ủy quyền của chị H: Ông Trịnh Văn Đ1, sinh năm 1961. Địa chỉ:

Ấp Giồng Bướm A, xã Châu Thới, huyện VL, tỉnh Bạc Liêu (văn bản ủy quyền ngày 09/12/2019) (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đồng nguyên đơn: Bà Huỳnh Kim Mai – Luật sư Công ty Luật TNHH Một thành viên Minh Quốc thuộc Đoàn luật sư tỉnh Bạc Liêu (có mặt).

2. Đồng bị đơn:

2.1. Ông Nguyễn Văn A1, sinh năm 1956 (có mặt).

2.2. Bà Cao Thị Đ, sinh năm 1958 (có mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp Cai Điều, xã Châu Thới, huyện VL, tỉnh Bạc Liêu.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 09 tháng 12 năm 2019 và lời khai tại Tòa án, ông Trịnh Văn Đ1 là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Chị Trịnh Thu H có tham gia chơi nhiều dây hụi do vợ chồng ông Nguyễn Văn A1, bà Cao Thị Đ tổ chức, cụ thể như sau:

+ Dây thứ 1: Dây hụi tháng mở ngày 20/8/2017, mệnh giá 1.000.000 đồng, mỗi tháng khui một lần, có 43 chưng, chị H tham gia chơi 01 chưng, mãn hụi ngày 20/3/2021. Chị H đã đóng được 16 kỳ hụi với số tiền thực đóng là 7.860.000 đồng:

+ Dây thứ 2: Dây hụi tháng mở ngày 10/01/2018, mệnh giá 1.000.000 đồng, mỗi tháng khui một lần, có 35 chưng, chị H tham gia chơi 01 chưng, mãn hụi ngày 10/10/2020. Chị H đã đóng được 12 kỳ hụi với số tiền thực đóng là 5.660.000 đồng:

+ Dây thứ 3: Dây hụi mùa mở ngày 10/3/2017, mệnh giá 10.000.000 đồng, 04 tháng khui một lần, có 16 chưng, chị H tham gia chơi 01 chưng, không nhớ ngày mãn hụi. Chị H đã đóng được 06 kỳ hụi với số tiền 33.000.000 đồng.

+ Dây thứ 4: Dây hụi tháng mở ngày 20/02/2017, mệnh giá 500.000 đồng, mỗi tháng khui một lần, gồm 44 chưng, mãn hụi ngày 20/9/2020. Dây hụi này ban đầu chị H không tham gia chơi nhưng khi hụi mở được 06 kỳ, chị H có mua lại 03 chưng hụi từ chủ hụi. Lúc mua hụi thì không rõ các phần hụi được bán là của ai, chị H chỉ biết mua lại từ chủ hụi. Khi mua hụi có làm giấy tay. Vào kỳ mua hụi thì hụi viên khác (không rõ ai) để 270.000 đồng hốt được hụi, chủ hụi căn cứ vào giá hụi này để bán hụi lại cho chị H với giá 11.740.000 đồng/chưng x 03 chưng = 35.220.000 đồng. Số tiền 11.740.000 đồng của một chưng hụi được tính như sau: Do hụi bỏ 270.000 đồng nên hụi viên phải đóng 230.000 đồng/chưng x 38 chưng hụi sống = 8.740.000 đồng + 3.000.000 đồng (của 06 chưng hụi chết)/6 kỳ hụi chết = 11.740.000 đồng. Sau khi mua hụi thì dây hụi này tiếp tục khui đến khi chủ hụi đình hụi. Trong thời gian này, chị H có hốt một chưng hụi, còn lại hai chưng chưa hốt. Nay chị H yêu cầu bà Đ, ông A1 trả lại cho chị H số tiền hụi của hai chưng còn lại là 11.740.000 đồng/chưng x 02 chưng = 23.480.000 đồng. Ngoài ra, chị H có nhận của ông A1, bà Đ số tiền 6.640.000 đồng, nên chị H đồng ý đối trừ số tiền này vào số tiền mà ông A1, bà Đ phải trả cho chị.

Các dây hụi trên được tính ngày tháng năm là theo âm lịch, giữa chị H và ông A1, bà Đ thỏa thuận đình hụi là ngày 01/01/2019. Việc bà Đ, ông A1 trả số tiền 6.640.000 đồng là số tiền mà chị nhận được từ việc người bán hụi đóng hụi chết dư ra những kỳ tiếp theo.

Nay chị H yêu cầu ông A1, bà Đ trả lại tổng tiền hụi là 63.360.000 đồng và lãi suất phát sinh đối với số tiền 70.000.000 đồng theo quy định của pháp luật (10%/năm) từ ngày 01 tháng 4 năm 2019 (do chị H chốt lại ngày bà Đ, ông A1 đình hụi cuối cùng) đến ngày xét xử sơ thẩm là 25/6/2020 là 14 tháng 24 ngày = 8.598.808 đồng. Mặc dù đình hụi 01/01/2019, nhưng chốt nợ vào nhiều ngày khác nhau, nên chị H thống nhất lấy ngày 01/4/2019 để thống nhất trong yêu cầu tất cả các dây hụi.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Căn cứ vào lời trình bày của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, lời thừa nhận của bị đơn. Cho thấy yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ. Buộc bị đơn trả tiền nợ gốc và lãi theo yêu cầu của nguyên đơn.

* Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đồng bị đơn là Nguyễn Văn A1 và bà Cao Thị Đ trình bày: Chị Trịnh Thu H có tham gia chơi nhiều dây hụi do ông A1, bà Đ tổ chức, cụ thể như sau:

+ Dây thứ 1: Dây hụi tháng mở ngày 20/8/2017, mệnh giá 1.000.000 đồng, mỗi tháng khui một lần, có 43 chưng, chị H tham gia chơi 01 chưng, mãn hụi ngày 20/3/2021. Chị H đã đóng được 16 kỳ hụi với số tiền thực đóng là 7.860.000 đồng:

+ Dây thứ 2: Dây hụi tháng mở ngày 10/01/2018, mệnh giá 1.000.000 đồng, mỗi tháng khui một lần, có 35 chưng, chị H tham gia chơi 01 chưng, mãn hụi ngày 10/10/2020. Chị H đã đóng được 12 kỳ hụi với số tiền thực đóng là 5.660.000 đồng:

+ Dây thứ 3: Dây hụi mùa mở ngày 10/3/2017, mệnh giá 10.000.000 đồng, 04 tháng khui một lần, có 16 chưng, chị H tham gia chơi 01 chưng, không nhớ ngày mãn hụi. Chị H đã đóng được 06 kỳ hụi với số tiền 33.000.000 đồng.

Ông A1, bà Đ thống nhất với số tiền thực đóng của ba dây hụi trên do phía nguyên đơn trình bày.

Đối với dây hụi thứ 4: Dây hụi tháng mở ngày 20/02/2017, mệnh giá 500.000 đồng, mỗi tháng khui một lần, gồm 44 chưng, mãn hụi ngày 20/9/2020. Bà Đ, ông A1 thừa nhận có trực tiếp bán cho chị H 03 chưng hụi (hụi gốc của bà Hồ Thị Hoa là vợ ông Tâm) có địa chỉ tại khóm Bờ Tây, phường Nhà Mát, thành phố BL, tỉnh Bạc Liêu. Trong giấy hụi bà Đ ghi là “Tâm chùa bà” có số thứ tự 5, 6, 7. Ông A1, Đ được bà Hoa nhờ bán hụi. Khi bán hụi cho chị H cũng đã nói rõ sự việc này. Cách thức bán hụi như sau: Chị H mua hụi của bà Hoa thì bà Hoa có nghĩa vụ đóng hụi chết cho chị H kể từ kỳ hụi tiếp theo sau kỳ đã hốt, mỗi tháng 500.000 đồng x 3 chưng = 1.500.000 đồng. Còn chị H đóng hụi sống cho chủ hụi và hưởng phần chênh lệch còn lại từ việc bà Hoa đóng hụi chết. Sau khi bán hụi giúp bà Hoa, bà Đ, ông A1 đã giao đủ số tiền hụi là 35.220.000 đồng cho bà Hoa. Sau khi chị H mua hụi thì dây hụi này tiếp tục diễn ra đến hết kỳ hụi thứ 23, bà Đ, ông A1 mới đình hụi. Đối với dây hụi này, chị H đã hốt hết một chưng vào ngày 20/10/2018, số tiền giao 16.900.000 đồng, còn lại hai chưng. Do vậy đối với dây hụi này, ông A1, bà Đ chỉ đồng ý trả lại số tiền hụi do chị H thực đóng mỗi chưng là 5.270.000 đồng x 02 chưng = 10.540.000 đồng.

Nay đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông A1, bà Đ thống nhất một phần, cụ thể: Ông A1, bà Đ thống nhất trả lại cho chị H số tiền thực đóng của các dây hụi là 57.060.000 đồng, không đồng ý trả lãi.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện VL phát biểu ý kiến:

+ Về thủ tục tố tụng: Tòa án thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn và đồng bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Trịnh Thu H đối với ông Nguyễn Văn A1, bà Cao Thị Đ về yêu cầu thanh toán tiền nợ hụi và lãi suất phát sinh. Buộc ông A1, bà Đ thanh toán cho chị Trịnh Thu H số tiền 63.360.000 đồng và lãi suất tính từ ngày 01/4/2019 đến ngày 25/6/2020 là 14 tháng 24 ngày với mức 10%/năm (trên số tiền gốc 70.000.000 đồng). Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, ông A1, bà Đ phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thẩm quyền: Chị Trịnh Thu H khởi kiện ông Nguyễn Văn A1, bà Cao Thị Đ yêu cầu thanh toán tiền nợ hụi là tranh chấp về giao dịch dân sự theo quy định khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Thời điểm khởi kiện, ông A1, bà Đ cư trú tại ấp Cai Điều, xã Châu Thới, huyện VL, tỉnh Bạc Liêu. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện VL, tỉnh Bạc Liêu thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Cả nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất: Chị Trịnh Thu H có tham gia 04 dây hụi do ông Nguyễn Văn A1 và bà Cao Thị Đ làm chủ, cụ thể như sau:

+ Dây thứ 1: Dây hụi tháng mở ngày 20/8/2017, mệnh giá 1.000.000 đồng, mỗi tháng khui một lần, có 43 chưng, chị H tham gia chơi 01 chưng, đã đóng được 16 kỳ hụi với số tiền thực đóng là 7.860.000 đồng:

+ Dây thứ 2: Dây hụi tháng mở ngày 10/01/2018, mệnh giá 1.000.000 đồng, mỗi tháng khui một lần, có 34 chưng, chị H tham gia chơi 01 chưng, đã đóng được 12 kỳ hụi với số tiền thực đóng là 5.660.000 đồng:

+ Dây thứ 3: Dây hụi mùa mở ngày 10/3/2017, mệnh giá 10.000.000 đồng, 04 tháng khui một lần, có 16 chưng, chị H tham gia chơi 01 chưng, đã đóng được 06 kỳ hụi với số tiền 33.000.000 đồng.

+ Dây thứ 4: Dây hụi tháng mở ngày 20/02/2017, mệnh giá 500.000 đồng, mỗi tháng khui một lần, gồm 44 chưng. Dây hụi này ban đầu chị H không tham gia chơi nhưng khi hụi mở được 06 kỳ, chị H có mua lại 03 chưng hụi từ chủ hụi. Dây hụi này khi mua đã khui được 06 kỳ, còn 38 kỳ chưa khui. Vào kỳ mua hụi thì hụi viên khác (không rõ ai) để 270.000 đồng hốt được hụi, chủ hụi căn cứ vào giá hụi này để bán hụi lại cho chị H với giá 11.740.000 đồng/chưng x 03 chưng = 35.220.000 đồng.

Các dây hụi này đều được thống nhất đình hụi vào ngày 01/01/2019.

Xét lời thừa nhận của bị đơn về các dây hụi, thời gian khui, thời gian đình hụi, số tiền thực đóng của chị H, cũng như việc mua hụi, cho thấy có tồn tại giao dịch hụi trên thực tế giữa các bên, thuộc tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2.2] Ông Nguyễn Văn A1, bà Cao Thị Đ thừa nhận đối với dây hụi khui ngày 20/9/2017, ngày 10/01/2018, ngày 10/3/2017 (âm lịch) và nợ lại chị H tổng số tiền là 46.520.000 đồng, lời thừa nhận nợ của ông A1, bà Đ trong trường hợp này cũng thuộc tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2.3] Đối với dây hụi khui ngày 20/02/2017, ông A1, bà Đ thống nhất có bán hụi cho chị H 03 chân hụi, giá mỗi chân là 11.740.000 đồng, chị H cung cấp giấy biên nhận bán hụi. Tuy nhiên, biên nhận có sự tẩy xóa tên người bán hụi, nhưng người nhận tiền là ông A1. Bà Đ, ông A1 cho rằng bán hụi thay cho chị Hồ Thị Hoa. Tại Biên bản lấy lời khai bà Hồ Thị Hoa ngày 23/6/2020, bà Hoa không thừa nhận có nhờ bà Đ bán hụi mà trực tiếp bà Hoa bán hụi cho bà Đ 02 chân hụi, chứ không phải 03 chân hụi như giao dịch giữa chị H và ông A1 (bút lục 78 đến 81). Bên cạnh đó, theo danh sách hụi viên thì bà Đ là chủ hụi cũng có tham gia một phần hụi trong dây hụi này với tên Út A1, đến ngày bán hụi ông A1 vẫn chưa hốt chân hụi này. Do đó, việc ông A1, bà Đ bán 03 chân hụi cho chị H là có thật, bà Đ nói bán hụi thay chị Hoa nhưng không có chứng cứ gì để chứng minh ngoài lời trình bày của bà Đ, ông A1 nên Hội đồng xét xử không chấp nhận, mà xác định giao dịch này do chính ông A1, bà Đ bán 03 chân hụi cho chị H.

[2.4] Cả nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất chị H đã hốt hết một chân, còn 02 chân hụi chưa hốt, số tiền gốc khi mua hụi là 11.740.000 đồng/chân. Chị H yêu cầu ông A1, bà Đ trả tiền gốc của hai chân hụi này, ông A1 và bà Đ thừa nhận đã nhận số tiền từ chị H giao lại cho bà Hoa. Trong quá trình đình hụi, bà Đ đã gom và đưa tiền cho chị H nhiều lần, hiện tại chỉ còn nợ lại 5.270.000 đồng x 2 chân = 10.540.000 đồng. Chị H và bà Hoa không thừa nhận lời trình bày của bà Đ, ông A1. Ngoài lời trình bày của ông bà thì không có chứng cứ nào khác chứng minh đã trả số tiền 23.480.000 đồng cho chị H, nên có căn cứ chấp nhận lời trình bày của ông Đ1 và lời trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.

[2.5] Chị H yêu cầu ông A1, bà Đ trả tiền lãi từ ngày 01/4/2019 đến khi xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất 10%/năm. Hội đồng xét xử xét thấy, cả nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất thỏa thuận đình hụi từ ngày 01/01/2019, cho thấy thời điểm này mới phát sinh nghĩa vụ trả tiền của bị đơn. Tuy nhiên, nguyên đơn chỉ yêu cầu tính lãi từ ngày 01/4/2019 đến ngày xét xử sơ thẩm là sự tự nguyện của đương sự, có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Cụ thể, lãi suất nguyên đơn yêu cầu được chấp nhận như sau: 70.000.000 đồng x 10%/năm x 14 tháng 24 ngày = 8.598.808 đồng.

[2.6] Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày, chị H có nhận số tiền 6.640.000 đồng do từ người bán hụi chết giao thông qua ông A1, bà Đ. Chị H đồng ý trả số tiền này lại cho ông A1, bà Đ và khấu trừ vào số tiền mà ông A1, bà Đ phải trả cho chị. Xét sự tự nguyện thừa nhận và yêu cầu của đương sự là tình tiết sự kiện không phải chứng minh theo khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.7] Từ sự thừa nhận, cũng như phân tích tại mục [2.3] đến [2.6] và thay đổi yêu cầu của nguyên đơn, nên buộc ông A1 Và bà Đ có trách nhiệm trả cho chị H số tiền hụi còn nợ lại là 63.360.000 đồng và 8.598.808 đồng tiền lãi theo quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 16, khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 22, khoản 3 Điều 27 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về Hụi, Họ, Biêu, Phường, khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:

[3.1] Do yêu cầu khởi kiện của chị H đối với ông A1, bà Đ được chấp nhận, nên ông A1, bà Đ phải chịu án phí có giá ngạch đối với số tiền có trách nhiệm thanh toán 71.958.808 đồng x 5% = 3.597.940 đồng. Tuy nhiên, ông A1, bà Đ là người cao tuổi và có yêu cầu xin miễn án phí, nên Hội đồng xét xử chấp nhận miễn án phí cho ông A1, bà Đ theo quy đinh tại điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[3.2] Chị H không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, đã dự nộp tạm ứng án phí 1.890.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005162 ngày 20/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện VL, tỉnh Bạc Liêu nên được hoàn lại theo quy đinh tại khoản 1 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[4] Như đã phân tích, có căn cứ chấp nhận toàn bộ lời đề nghị của đại diện Viện kiêm sat viên tai phiên toa.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điêu 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 16, khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 22, khoản 3 Điều 27 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về Hụi, Họ, Biêu, Phường; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy b an Thương vu Quôc hôi quy định về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trịnh Thu H đối với ông Nguyễn Văn A1, bà Cao Thị Đ về yêu cầu thanh toán tiền hụi còn nợ lại 71.958.808 đồng (Bảy mươi một triệu chín trăm năm mươi tám ngàn tám trăm lẻ tám đồng).

Buộc ông Nguyễn Văn A1 và bà Cao Thị Đ có trách nhiệm thanh toán cho chị Trịnh Thu H số tiền là 71.958.808 đồng (Bảy mươi một triệu chín trăm năm mươi tám ngàn tám trăm lẻ tám đồng) (trong đó có 63.360.000 đồng tiền gốc và 8.598.808 đồng tiền lãi).

2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

3.1. Ông Nguyễn Văn A1 và bà Cao Thị Đ được miễn toàn bộ án phí có giá ngạch.

3.2. Chị Trịnh Thu H đã nộp số tiền 1.890.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005162 ngày 20/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện VL, tỉnh Bạc Liêu nên được hoàn lại tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện VL, tỉnh Bạc Liêu.

4. Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời gian 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

127
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 09/2020/DS-ST ngày 25/06/2020 về tranh chấp hụi

Số hiệu:09/2020/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Vĩnh Lợi - Bạc Liêu
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:25/06/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về