Bản án 09/2019/HS-PT ngày 08/01/2019 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 09/2019/HS-PT NGÀY 08/01/2019 VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 08 tháng 01 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 186/TLPT-HS ngày 13 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo Hà Thị H do có kháng cáo của bị cáo Hà Thị H và Công ty TNHH Thương mại thủy sản A đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 122/2018/HS-ST ngày 06 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

* Bị cáo có kháng cáo:

Hà Thị H, sinh ngày 12/5/1983, tại Châu P, tỉnh An Giang; nơi cư trú: số 1093, tổ 27, ấp Mỹ Th, xã Mỹ Ph, huyện Châu P, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: kế toán; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn Giờ, sinh năm 1960 và bà Đồng Thị Giàu, sinh năm 1964; Bị cáo có chồng là Trần Xuân Thành, sinh năm 1981, có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2013.

- Tiền án, tiền sự: chưa.

- Nhân thân: Từ nhỏ đến lớn sống chung với cha mẹ tại ấp Mỹ Thuận, xã Mỹ Phú, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông đi học trung cấp tin học - kế toán tại Trường Đại học Công nghệ thông tin

– Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh. Từ tháng 12/2008 đến tháng 7/2017 làm kế toán cho Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại thủy sản A.

- Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại kháng cáo: Công ty TNHH Thương mại thủy sản A

Đại diện theo pháp luật của công ty: ông Đỗ Thanh H2 – chức vụ Giám đốc Công ty. (có mặt)

Địa chỉ: Số 7H, đường Bờ Kè, khóm Nguyễn D, phường Mỹ B, thành phố X, tỉnh An Giang.

(Trong vụ án, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hà Thị H là nhân viên hợp đồng lao động của Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại thủy sản A có trụ sở tại số 7H, đường Bờ Kè, khóm Nguyễn Du, phường Mỹ Bình, thành phố Long Xuyên. H được ông Đỗ Thanh H2 – giám đốc công ty phân công nhiệm vụ kế toán và quản lý tiền trong két sắt của Công ty. Từ tháng 6/2016 đến ngày 13/7/2017, lợi dụng nhiệm vụ được giao H đã nhiều lần chiếm đoạt tiền mặt của Công ty với tổng số tiền là 380.000.000 đồng, mỗi lần chiếm đoạt từ 8.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng. Ngày 14/7/2017, H không đến công ty làm việc và nhắn tin cho ông H2 với nội dung xin lỗi vì đã chiếm đoạt số tiền trong két sắt của công ty. Sau đó, ông H2 cho kiểm tra két sắt và đối chiếu sổ sách phát hiện bị mất số tiền 380.000.000 đồng, gồm các khoản: quỹ của công ty 260.000.000 đồng, công đoàn phí 15.000.000 đồng, quỹ dầu 60.000.000 đồng và quỹ ghe 45.000.000 đồng nên ông H2 đến Công an phường Mỹ Bình tố giác. H bỏ trốn đến ngày 29/4/2018 đến Công an thành phố Long Xuyên đầu thú.

Tại Cáo trạng số 94/CT-VKS ngày 08 tháng 8 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố bị cáo Hà Thị H về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 175 Bộ luật Hình sự được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 122/2018/HS-ST ngày 06 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Hà Thị H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ vào khoản 3 Điều 175, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Hà Thị H: 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bị cáo chấp hành án.

Buộc bị cáo phải bồi thường cho Công ty TNHH Thương mại thủy sản A số tiền là 80.500.000 đồng (tám mươi triệu năm trăm ngàn đồng).

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên phần án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định.

- Ngày 15/11/2018, bị cáo Hà Thị H có đơn kháng cáo với nội dung: xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

- Ngày 20/11/2018, Công ty TNHH Thương mại thủy sản A kháng cáo xin cho bị cáo được hưởng án treo, không yêu cầu bị cáo H phải bồi thường số tiền 80.500.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Hà Thị H và Công ty TNHH Thương mại thủy sản A vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Kiểm sát viên thực hiện quyền công tố nhà nước tại phiên tòa phát biểu quan điểm về vụ án và đề xuất với Hội đồng xét xử:

- Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Bị cáo Hà Thị H và Công ty TNHH Thương mại thủy sản A kháng cáo trong hạn luật định nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận việc kháng cáo để xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

- Về nội dung: Bị cáo có hành vi lợi dụng sự lòng tin của Công ty TNHH Thương mại thủy sản A để nhiều lần chiếm đoạt tổng số tiền 380.000.000 đồng của công ty. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Cấp sơ thẩm đã xem xét nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 51 và áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để xét xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mức án 03 (ba) năm tù là phù hợp. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã cung cấp chứng cứ chứng minh đã khắc phục toàn bộ thiệt hại cho Công ty TNHH Thương mại thủy sản A, đây là tình tiết mới cần được ghi nhận chứng tỏ thái độ ăn năn, hối cải của bị cáo, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đối với yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo và Công ty TNHH Thương mại thủy sản A, xét thấy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần trong thời gian dài, căn cứ khoản 5 Điều 3 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo thì bị cáo thuộc trường hợp không cho hưởng án treo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c, khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị cáo Hà Thị H, sửa án sơ thẩm xử phạt bị cáo Hà Thị H từ 02 (hai) năm tù đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Hành vi của bị cáo được thực hiện trước ngày 01/01/2018, khi xét xử bị cáo thì Bộ luật Hình sự được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã có hiệu lực, so với Điều 140 của Bộ luật Hình sự được sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì Điều 175 của Bộ luật Hình sự được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định mức hình phạt nhẹ hơn nên căn cứ Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 Hội đồng xét xử sơ thẩm quyết định áp dụng Điều 175 Bộ luật Hình sự được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để xử lý bị cáo là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật.

Về việc xác định tư cách tố tụng: cấp sơ thẩm xác định tư cách tố tụng của Công ty TNHH Thương mại thủy sản A (Công ty A) là nguyên đơn dân sự không đúng theo quy định của pháp luật, mặc dù Công ty A có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại. Bởi lẽ, theo nội dung vụ án, bị cáo đã trực tiếp chiếm đoạt tài sản của Công ty A - một công ty gia đình. Theo Luật Doanh nghiệp thì Công ty A (Công ty TNHH hai thành viên trở lên) là một tổ chức có tên riêng, có tài sản được đăng ký thành lập theo quy định pháp luật. Do đó, Công ty A là một tổ chức đã bị thiệt hại về tài sản do bị cáo gây ra nên tư cách tố tụng của Công ty A phải là bị hại theo quy định tại khoản 1 Điều 62 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 chứ không phải nguyên đơn dân sự. Nếu xác định Công ty A là nguyên đơn dân sự thì Công ty không thể kháng cáo phần hình phạt của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định điều chỉnh lại tư cách tố tụng của Công ty TNHH Thương mại thủy sản A là bị hại và đề nghị cấp sơ thẩm nghiêm túc rút kinh nghiệm trong trường hợp này.

[2] Về nội dung vụ án:

Lời khai nhận tội của bị cáo Hà Thị H tại phiên tòa phúc thẩm hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với: Kết luận giám định số 368/KLGT-PC54 ngày 25/9/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đầy đủ căn cứ xác định: Từ tháng 6/2016 đến ngày 13/7/2017, bị cáo Hà Thị H đã có hành vi lợi dụng lòng tin của Công ty A giao nhiệm vụ kế toán quản lý tiền mặt trong két sắt đã nhiều lần chiếm đoạt các nguồn tiền gồm: tiền quỹ của công ty là 260.000.000 đồng, tiền quỹ dầu là 60.000.000 đồng, tiền quỹ trích lại từ quỹ Liên đoàn lao động là 15.000.000 đồng, tiền quỹ ghe là 45.000.000 đồng. Tồng số tiền bị cáo chiếm đoạt của công ty là 380.000.000 đồng.

[3] Căn cứ vào quy định của pháp luật thì hành vi của bị cáo H đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Do đó, cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội danh này theo khoản 3 Điều 175 Bộ luật Hình sự được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo Hà Thị H, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, khi được Công ty A tin tưởng giao nhiệm vụ kế toán quản lý tiền bạc, quản lý sổ sách thì bị cáo phải cố gắng hoàn thành công việc để có được lòng tin nơi công ty, nhưng ngược lại bị cáo đã lợi dụng cơ hội đó để chiếm đoạt số tiền 380.000.000 đồng của công ty nhằm mục đích tiêu xài cá nhân và trả nợ. Khi không còn khả năng chi trả lại cho công ty thì bị cáo đã bỏ trốn tại địa phương nhằm trốn tránh trách nhiệm dân sự đối với bị hại, sau đó bị cáo quay về đầu thú. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của doanh nghiệp được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý hoang mang cho công ty khi đặt lòng tin về quản lý tài sản dành cho bị cáo. Do đó, cần có một mức hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Hành vi của bị cáo đã thỏa mãn tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên”, mỗi lần chiếm đoạt từ 8.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng đều đủ định lượng cấu thành tội phạm. Từ đó, cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, khi quyết định hình phạt ngoài xem xét tình tiết tăng nặng còn xem xét đến tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải, sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã vận động gia đình bồi thường thiệt hại cho phía công ty, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo đang nuôi con còn nhỏ, phía công ty xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, mức án 03 (ba) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” là hoàn toàn phù hợp. Lẽ ra cần giữ nguyên hình phạt đối với bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã tiếp tục vay mượn và vận động gia đình khắc phục số tiền còn lại 80.500.000 đồng cho Công ty A theo Phiếu thu ngày 07/11/2018, điều này cho thấy bị cáo đã khắc phục hoàn toàn số tiền chiếm đoạt của công ty. Đây là tình tiết mới thể hiện sự ăn năn hối cải của bị cáo nên cần được ghi nhận để xem xét chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo để giảm một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Đối với yêu cầu xin được hưởng án treo của bị cáo và bị hại Công ty A, Hội đồng xét xử xét thấy, trong thời gian làm kế toán của Công ty A, bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt nhiều lần số tiền của công ty từ 8.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng, tổng số tiền chiếm đoạt 380.000.000 đồng, điều này cho thấy tính nguy hiểm trong hành vi phạm phạm tội của bị cáo. Theo hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tại khoản 5 Điều 3 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 thì người thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần không thuộc trường hợp được hưởng án treo. Từ đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo và Công ty A.

[4] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo và Công ty A, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa.

[5] Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo Hà Thị H không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Bị hại Công ty TNHH Thương mại Thủy sản A không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

[6] Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Hà Thị H, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo và bị hại Công ty TNHH Thương mại Thủy sản A, sửa bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt.

Áp dụng Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 3 Điều 175; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:

Xử phạt: Bị cáo Hà Thị H 02 (hai) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Về án phí: Bị cáo Hà Thị H và bị hại Công ty TNHH Thương mại thủy sản A không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 122/2018/HS-ST ngày 06 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.


134
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về