Bản án 09/2019/HNGĐ-ST ngày 24/09/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ, TỈNH ĐẮK NÔNG

BẢN ÁN 09/2019/HNGĐ-ST NGÀY 24/09/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 24 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Nô xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 91/2019/TLST-HNGĐ, ngày 23 tháng 7 năm 2019, về việc: “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 06 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T; sinh năm 1987; địa chỉ: Khu nhà c, đường N, phường Đ, thị xã G, tỉnh Đăk Nông – Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Lý Hạ L; sinh năm 1983; địa chỉ: thôn Đ, xã S, huyện K, tỉnh Đăk Nông – Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 18/2/2019 và quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh Lý Hạ L kết hôn ngày 22/10/2015, đăng ký kết hôn tại UBND xã S, huyện K, tỉnh Đăk Nông, việc kết hôn của anh chị trên cơ sở tự nguyện. Chị T và anh L chung sống đến tháng 4 năm 2018 thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, do không cùng quan điểm sống, không tin tưởng, không tôn trọng và quan tâm chăm sóc nhau. Chị T và anh L không còn chung sống từ tháng 02 năm 2019 đến nay. Hiện nay tình cảm yêu T không còn, không có khả năng hàn gắn hạnh phúc. Vì vậy chị T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ly hôn anh Lý Hạ L.

- Về con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Lý Hạ L có 01 con chung là Lý Thiện N, sinh ngày 05/8/2016. Chị T có nguyện được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Quá trình giải quyết vụ án, Bị đơn anh Lý Hạ L trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh L công nhận nội dung kết hôn với chị Nguyễn Thị T là đúng. Anh L và chị T có mâu thuẫn do chị T làm việc tại thị xã G, tỉnh Đăk Nông còn anh L ở huyện K, không thường xuyên gặp nhau nên tình cảm không gắn bó. Anh L đồng ý ly hôn với chị T.

- Về con chung: Anh L và chị T có 01 con chung là Lý Thiện N, sinh ngày 05/8/2016. Anh L có nguyện được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, HĐXX và Người tham gia tố tụng:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và HĐXX: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng từ khâu thụ lý đến trước khi mở phiên tòa; tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ các trình tự thủ tục quy định; người tham gia tố tụng chị Nguyễn Thị T và anh Lý Hạ L chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, chị Nguyễn Thị T ly hôn anh Lý Hạ L, giao con chung là Lý Thiện N cho chị Nguyễn Thị T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.

Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân và gia đình về tranh chấp “Ly hôn”; Bị đơn anh Lý Hạ L có nơi cư trú tại thôn Đ, xã S, huyện K, tỉnh Đăk Nông. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Nô theo; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung:

2.1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Lý Hạ L kết hôn ngày 22/10/2015, đăng ký kết hôn tại UBND xã S, huyện K, tỉnh Đăk Nông, việc kết hôn của anh chị trên cơ sở tự nguyện. Trong quá trình chung sống vợ chồng chị T và anh L xảy ra nhiều mâu thuẫn. Thấy rằng hiện nay mâu thuẫn giữa chị T và anh L đã trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, không còn quan tâm chăm sóc nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc mâu thuẫn gia đình, chị T và anh L không báo nên chính quyền địa phương không biết.

Trong quan hệ hôn nhân phải dựa trên tình cảm, tình yêu T, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc trong gia đình. Tuy nhiên chị T và anh L đã không còn tình cảm vợ chồng, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên chị T và anh L thuận tình ly hôn, vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

2.2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Lý Hạ L có 01 con chung là Lý Thiện N, sinh ngày 05/8/2016.

Xét yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung của chị Nhung: Hội đồng xét xử xét thấy: anh L là người khuyết tật nặng, không có công việc ổn định; chị T có công việc và thu nhập ổn định, có thời gian quan tâm, chăm sóc, tạo điều kiện tốt cho con, việc giao con cho chị T trực tiếp nuôi sẽ đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị T. Do chị T không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Anh L, chị T thực hiện các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con sau ly hôn theo các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, không ai được cản trở.

2.3. Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2.4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 3 Điều 144; khoản 4 Điều 147; Điều 235; Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 19; Điều 55; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí toà án.

Xử:

1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Lý Hạ L thuận tình ly hôn.

2. Về con chung: Giao con chung là Lý Thiện N, sinh ngày 05/8/2016 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.

Chị Nguyễn Thị T và anh Lý Hạ L có các quyền và nghĩa vụ đối với con sau ly hôn theo quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm, trừ vào 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0000898 ngày 22/7/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Nô.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án cấp trên để yêu cầu xét xử phúc thẩm.


21
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 09/2019/HNGĐ-ST ngày 24/09/2019 về ly hôn

Số hiệu:09/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Krông Nô - Đăk Nông
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:24/09/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về