Bản án 09/2019/HNGĐ-ST ngày 16/09/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG

BẢN ÁN 09/2019/HNGĐ-ST NGÀY 16/09/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON CHUNG

Ngày 16/9/2019, tại Trụ sở Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 120/2019/TLST-HNGĐ ngày 22/7/2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/8/2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Dương Thị M T, sinh năm 1994.

Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Tổ 19, phường TT, quận LB, thành phố Hà Nội.

Bị đơn: Anh Vũ Hải Q, sinh năm 1996.

Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn MT, xã TH, huyện BG, tỉnh Hải Dương.

(Chị T, anh Q đều có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Dương Thị M T trình bày:

Chị vµ anh Vũ Hải Q được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại UBND xã TH, huyện BG, tỉnh Hải Dương năm 2016.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng bố mẹ đẻ anh Q tại xã TH, huyện BG, tỉnh Hải Dương.

Quá trình chung sống, vợ chồng - gia đình hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Theo chị, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng: bất đồng quan điểm, tính cách không hợp nhau, không tìm được tiếng nói chung trên mọi lĩnh vực của cuộc sống, thường xuyên xảy ra cãi cọ, xúc phạm nhau, không có sự chia sẻ với nhau về tình cảm và kinh tế; bản thân anh Q không tin tưởng mà luôn nghi ngờ ghen tuông với chị. Mặt khác, do vẫn chung sống cùng nhà nên giữa chị với bố mẹ chồng cũng xảy ra mâu thuẫn nhưng anh Q không biết cách cư xử phù hợp để dung hòa mối quan hệ giữa vợ với bố mẹ nên càng khiến mâu thuẫn giữa chị và anh Q trở nên căng thẳng. Khi xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng chị, hai bên gia đình đã nhiều lần tìm biện pháp để hàn gắn nhưng không kết quả. Tháng 5/2019 chị đưa con về ở với bố mẹ đẻ tại thành phố Hà Nội. Từ đó vợ chồng sống ly thân, không quan tâm đến nhau. Chị xác định mâu thuẫn vợ chồng không thể khắc phục được, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Q.

Chị và anh Q có một con chung Vũ Minh Đ, sinh ngày 20/7/2016, hiện cháu Đ đang ở với chị. Nếu ly hôn, chị xin được nuôi con chung và tự nguyện không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con. Chị cam kết đảm bảo cuộc sống của con chung.

Về tài sản, nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ti bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, bị đơn anh Vũ Hải Q trình bày:

Về điều kiện, thời gian kết hôn, diễn biến quá trình chung sống như chị Trinh trình bầy là đúng.

Anh thừa nhận quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn mặc dù đã được hai bên gia đình động viên, hòa giải nhưng cuộc sống chung vợ chồng vẫn không được cải thiện mà luôn trong tình trạng căng thẳng, mệt mỏi...Chị T đã mang con về nhà đẻ ở từ tháng 5/2019, anh và gia đình có tìm nhưng chị T không đồng ý đoàn tụ.

Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không thể tổ chức được cuộc sống chung hạnh phúc, chị T xin ly hôn, anh nhất trí.

Anh và chị T có một con chung như chị T trình bầy, từ nhỏ cháu Đ ở với vợ chồng anh và ông, bà nội của cháu; có thời gian vợ chồng cùng đi làm để cháu Đ cho bố mẹ anh nuôi dưỡng. Từ tháng 5/2019 chị T mang con về ở cùng bố mẹ đẻ tại Hà Nội. Trường hợp vợ chồng ly hôn, anh xin nuôi con và tự nguyện không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Nếu Tòa án giao con cho chị T nuôi dưỡng, anh tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mức 3.000.000 đồng/tháng, kể từ tháng 10/2019 đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Về tài sản, nợ: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương xác định việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán trong quá trình thu thập chứng cứ, của HĐXX, thư ký cũng như của các đương sự tuân thủ đúng các quy định của BLTTDS;

Về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX:

Áp dụng: khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc Hội;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị M T.

- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Dương Thị M T và anh Vũ Hải Q.

- Về quan hệ con chung: Giao cho chị Dương Thị M T trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung Vũ Minh Đ, sinh ngày 20/7/2016 (hiện cháu Đ đang ở với chị T).

Chấp nhận sự tự nguyện của anh Q về việc cấp dưỡng nuôi con Vũ Minh Đ 3.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 10/2019 đến khi con chung đủ 18 tuổi.

- Về quan hệ tài sản: Chị T, anh Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị M T và anh Vũ Hải Q được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã TH, huyện BG, tỉnh Hải Dương ngày 15/4/2016, là hôn nhân hợp pháp.

Chị T, anh Q đều thừa nhận: Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, vợ chồng không có sự quan tâm, chia sẻ với nhau. Tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt, cuộc sống chung không có hạnh phúc, chị T đã mang con về nhà đẻ ở từ tháng 5/2019, vợ chồng ly thân từ đó, không còn quan tâm đến nhau. Chị T xin ly hôn, anh Q nhất trí vì vậy cần công nhận sự thuận tình ly hôn của anh, chị phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 51, Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2] Về quan hệ con chung: Chị T, anh Q có một con chung là Vũ Minh Đ, sinh ngày 20/7/2016. Anh, chị đều có nguyện vọng nuôi con chung và tự nguyện không yêu cầu bên kia cấp dưỡng nuôi con.

Xem xét về khả năng, điều kiện nuôi dưỡng, thu nhập, nơi ở để đảm bảo việc nuôi con chung của chị T và anh Q là tương đương nhau; gia đình hai bên đều bày tỏ quan điểm sẵn sàng hỗ trợ, tạo điều kiện tốt nhất cho anh, chị nếu được giao nuôi con. Tuy nhiên thực tế hiện nay cháu Đ đang ở cùng chị T. Quá trình nuôi dưỡng cháu Đ anh, chị thừa nhận cháu chậm nói, có biểu hiện tự kỷ tăng động nhẹ, cháu đang điều trị thiếu máu do thiếu sắt. Hiện chị T đang cho cháu học tại Trung tâm giáo dục hòa nhập quận LB, thành phố Hà Nội. Qua theo dõi và kết quả bảng đánh giá hòa nhập của Trung tâm thì cháu phát triển toàn diện cả về thể chất, trí tuệ, các kỹ năng…như vậy có cơ sở để khẳng định cháu Đ đang nhận được sự nuôi dưỡng, giáo dục có hiệu quả; hơn nữa cháu mới gần đủ 38 tháng tuổi, trong khoảng độ tuổi pháp luật quy định cần sự chăm sóc trực tiếp của người mẹ…Vì vậy để duy trì cuộc sống ổn định, nhằm đảm bảo quyền lợi, khả năng phát triển về mọi mặt của con chung nên giao cháu Vũ Minh Đ cho chị T nuôi dưỡng.

Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, chị T tự nguyện không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung, chị cam kết đảm bảo cuộc sống của con chung; Tại phiên tòa, anh Q đề xuất mức cấp dưỡng nuôi con chung Vũ Minh Đ là 3.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 10/2019 đến khi con chung đủ 18 tuổi; anh xác định hiện nay anh đang làm thuê cho tư nhân, thu nhập từ 9.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng/tháng, anh đủ điều kiện để thực hiện việc cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét thấy việc cấp dưỡng nuôi con của anh Q là tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội; vừa để đảm bảo quyền lợi của con chung vừa thể hiện trách nhiệm của người không trực tiếp nuôi con nên chấp nhận phù hợp quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về quan hệ tài sản, nợ: Chị T, anh Q không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

[4] Về án phí: Chị T, anh Q thuận tình ly hôn, thống nhất về việc cấp dưỡng trước khi mở phiên tòa nên phải chịu 50% mức án phí (chị T tự nguyện chịu cả) phù hợp quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị M T.

1- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Dương Thị M T và anh Vũ Hải Q 2- Về quan hệ con chung: Giao cho chị Dương Thị M T trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung Vũ Minh Đ, sinh ngày 20/7/2016 (hiện cháu Đ đang ở với chị T).

Công nhận sự tự nguyện của anh Vũ Hải Q về việc cấp dưỡng nuôi con Vũ Minh Đ 3.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 10/2019 đến khi cháu Đ đủ 18 tuổi.

Anh Q vẫn có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3- Về án phí: Chị Dương Thị M T tự nguyện chịu cả 150.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn và 150.000 đồng án phí cấp dưỡng; cộng = 300.000 đồng, được đối trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí chị đã nộp theo biên lai số AA/2017/0005394 ngày 22/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.

4- Về quyền kháng cáo: Chị T, anh Q có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

237
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 09/2019/HNGĐ-ST ngày 16/09/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

Số hiệu:09/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bình Giang - Hải Dương
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 16/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về