Bản án 09/2019/HNGĐ-ST ngày 07/05/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

BẢN ÁN 09/2019/HNGĐ-ST NGÀY 07/05/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Ngày 07 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 48/2019/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 07/2019/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Vàng Thị C - Sinh năm 1991; Địa chỉ: Bản N, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Có mặt).

2. Bị đơn: Anh Vừ A T - Sinh năm 1987; Địa chỉ: Bản N, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt).

3. Người phiên dịch: Anh Vàng A D - Sinh năm 1975; Địa chỉ: Bản Con C, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 10/01/2019 và trong quá trình giải quyết, xét xử nguyên đơn chị Vàng Thị C trình bày:

- Về hôn nhân: Chị C và anh T kết hôn với nhau do hai bên tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 26/9/2014 tại UBND xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Trong quá trình chung sống với nhau tại bản N, xã N, huyện Đ chị C và anh T thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, đánh đập nhau, nguyên nhân là do anh T nghiện ma túy. Vì vậy anh chị đã sống ly thân với nhau từ tháng 10/2018 cho đến nay không ai còn quan tâm đến ai nữa.Vì vậy chị C đề nghị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên giải quyết cho chị được ly hôn với anh T vì tình cảm của chị C đối với anh T không còn, nếu cố níu kéo cũng không có hạnh phúc.

- Về con chung: Chị C và anh T có ba con chung là: Vừ Thị D - sinh ngày 28/02/2014, Vừ Thị Các S - sinh ngày 29/11/2015 và Vừ A D - sinh ngày 16/10/2017. Hiện tại các cháu đang ở cùng với chị C, nguyện vọng của chị C sau khi ly hôn là được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc các cháu và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung cho các cháu.

- Về tài sản riêng, tài sản chung; Nợ phải trả, nợ lấy về; diện tích ruộng nương: Không có.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án như sau:

* Về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng:

- Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử của thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.

- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Tại phiên tòa ngày hôm nay, Hội đồng xét xử, thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

+ Đối với nguyên đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70,71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Các tài liệu chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp là bản photo có công chứng hoặc bản chính, đảm bảo đúng quy định tại Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Đối với bị đơn: Bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập không thực hiện đúng các quy định về nghĩa vụ của bị đơn tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự, ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án.

* Về quan điểm giải quyết vụ án:

- Về hôn nhân: Căn cứ Điều 51, 53, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 đề nghị Tòa án chấp nhận nội dung đơn khởi kiện của chị C được ly hôn với anh T.

- Về con chung: Căn cứ vào các Điều 69, 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 đề nghị Tòa án giao các cháu Vừ Thị D, sinh ngày 28/02/2014; Cháu Vừ Thị Các S, sinh ngày 29/11/2015 và cháu Vừ A D, sinh ngày 16/10/2017 cho chị C chăm sóc. Chị C không yêu cầu về cấp dưỡng nên đề nghị Tòa án không giải quyết.

- Về tài sản riêng, tài sản chung; Nợ phải trả, nợ lấy về; diện tích ruộng nương: Không có nên không đặt vấn đề giải quyết trong vụ án này.

- Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVHQ14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn.

* Những yêu cầu, kiến nghị khắc phục vi phạm về tố tụng: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra xem xét tại phiên tòa, kết quả hỏi tại phiên tòa và trên cơ sở xem xét đầy đủ ý kiến của nguyên đơn tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Đây là vụ án Ly hôn giữa chị Vàng Thị C và anh Vừ A T thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án anh Vừ A T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án liên quan đến việc giải quyết vụ án nhưng anh T vẫn không đến tham gia phiên tòa. Xét thấy, sự vắng mặt của anh T không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung:

*) Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị C và anh T là hợp pháp, trên cơ sở tự nguyện được pháp luật công nhận, chị C cho rằng cuộc sống chung của anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, đánh đập nhau, nguyên nhân là do anh T nghiện ma túy (được chứng minh tại BL: 27). Trong đơn khởi kiện cũng như tại phiên tòa chị C khẳng định chị không còn tình cảm với anh T nữa nên anh chị đã sống ly thân với nhau từ tháng 10/2018 cho đến nay, không ai còn quan tâm đến ai nữa, vì vậy chị C tha thiết có nguyện vọng xin được ly hôn với anh T. Xét thấy, sau khi thụ lý vụ án anh T không trả lời thông báo thụ lý vụ án của Tòa án và cũng không đến tham gia phiên hòa giải để trình bày quan điểm của mình, điều đó đã thể hiện anh T chưa thực sự có thiện chí đoàn tụ. Vì vậy không có căn cứ để chứng minh rằng cuộc sống chung của chị C và anh T vẫn hòa thuận, hạnh phúc. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị C và anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy cần xử cho chị C được ly hôn với anh T là phù hợp với quy định tại điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

*) Về con chung: Chị C và anh T có ba con chung là Vừ Thị D - sinh ngày 28/02/2014, Vừ Thị Các S - sinh ngày 29/11/2015, Vừ A D - sinh ngày 16/10/2017. Hiện tại các cháu đang ở cùng với chị C, nguyện vọng của chị C sau khi ly hôn là được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu, chị C tự nguyện không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung cho các cháu vì anh T là người nghiện chất ma túy nên không có khả năng nuôi dưỡng, chăm sóc các cháu. Trong quá trình giải quyết vụ án anh T cũng không có ý kiến gì về việc nuôi con chung nhưng xét về mặt thực tế hiện tại các cháu đang ở cùng với chị C, còn anh T là người nghiện ma túy không có trách nhiệm với các cháu. Tại bản tự khai ngày 04/3/2019 và tại phiên tòa chị C khai về thu nhập từ nghề làm nương của chị không tính cụ thể được ra bao nhiêu một tháng nhưng cũng đủ để nuôi cả gia đình và nuôi các cháu ăn học cho đến khi trưởng thành. Vì vậy để đảm bảo được quyền lợi về mọi mặt cho các cháu Tòa án cần giao cho chị C nuôi dưỡng, chăm sóc các cháu và anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho các cháu là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân gia đình.

*) Về tài sản riêng, tài sản chung; Nợ phải trả, nợ lấy về; diện tích ruộng nương: Chị C khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.

*) Về án phí: Chị Vàng Thị C thuộc diện hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí, căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Vàng Thị C.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, 69, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự;

1. Về hôn nhân: Chị Vàng Thị C được ly hôn với anh Vừ A T.

2. Về con chung: Giao ba con chung là Vừ Thị D - sinh ngày 28/02/2014, Vừ Thị Các S - sinh ngày 29/11/2015, Vừ A D - sinh ngày 16/10/2017 cho chị Vàng Thị C được quyền trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ tuổi thành niên (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động. Chị C không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về tài sản: Tài sản riêng, tài sản chung; Nợ phải trả, nợ lấy về; diện tích ruộng nương: Không xem xét giải quyết trong vụ án này.

4. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Vàng Thị C.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự chị Vàng Thị C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (07/5/2019). Anh Vừ A T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

250
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 09/2019/HNGĐ-ST ngày 07/05/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

Số hiệu:09/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Điện Biên - Điện Biên
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 07/05/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về