Bản án 09/2018/HSST ngày 30/01/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 09/2018/HSST NGÀY 30/01/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 30/01/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 77/2017/TLST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2018/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Xuân H, tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1993 tại huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Kh, thị trấn T, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn H (Đã chết) và bà Bùi Thị D; Có vợ là: Quang Thị Thùy D và 01 con; Tiền án: Chưa có; Tiền sự: Ngày 06/5/2013, bị Công an huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt hành chính số tiền 1.500.000đ  về hành vi “Xâm hại tính mạng, sức khỏe của người khác”, đến nay vẫn chưa chấp hành ; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/11/2017 cho đến nay; Có mặt.

Người bị hại: Chị Nguyễn Thị Thúy H. Sinh năm: 1993. Trú tại: Bản M, xã C, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An. Có mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn S. Sinh năm: 1960. Trú tại: Kh, thị trấn T, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 20 giờ ngày 08/11/2017, Nguyễn Xuân H đi sang nhà ông Nguyễn Văn S mượn xe máy để đi mua đồ cho con. Sau khi mượn được xe thì H không đi mua đồ mà điều khiển xe máy xuống chơi điện tử tại quán T thuộc kh, thị trấn T, huyện Quỳ Châu. Đến 0 giờ ngày 09/11/2017, H ra về và nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để kiếm tiền tiêu xài. H đã để xe máy tại quán điện tử rồi đi bộ vào địa phận bản M, xã C. Khi đi đến nhà chị Nguyễn Thị Thúy H thì H đã trèo qua bờ tường rào rồi đi vào phòng khách. Tại đây thì H đã lấy trộm một số tài sản gồm: 01 chiếc Tivi nhãn hiệu SONY, 40 inch; 01 chiếc điện thoại di động Nokia 1280 và 02 chiếc đồng hồ đeo tay. Sau khi lấy trộm được số tài sản trên thì H đưa qua tường rào, để xuống đường và đi lấy xe máy vận chuyển về nhà cất giấu. Chị Nguyễn Thị Thúy H sau khi phát hiện bị mất số tài sản nới trên đã làm đơn trình báo cơ quan Công an huyện Quỳ Châu và đến 17 giờ ngày 09/11/2017, Nguyễn Xuân H đã đến đầu thú tại cơ quan Công an huyện Quỳ Châu và giao nộp các tài sản đã chiếm đoạt.

Tại Kết luận định giá số 29/KL-HĐĐG ngày 14/11/2017 của Hội đồng định giá tố tụng hình sự huyện Quỳ Châu kết luận: Số tài sản của chị Nguyễn Thị Thúy H có tổng trị giá tại thời điểm bị chiếm đoạt là 2.700.000đ  (Hai triệu, bảy trăm nghìn đồng).

Người bị hại - Chị Nguyễn Thị Thúy H trình bày: Vào khoảng 07 giờ 15 phút ngày 09/11/2017, chị H phát hiện bị mất một số tài sản để tại phòng khách của gia đình, gồm 01 chiếc Tivi, 01 chiếc điện thoại di động  và 02 đồng hồ đeo tay. Chị H đã làm đơn trình báo cơ quan chức năng và ngày 02/12/2017, chị H đã được cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Châu trả lại toàn bộ số tài sản bị Nguyễn Xuân H chiếm đoạt. Tại phiên tòa hôm nay, chị H không có yêu cầu bồi thường gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ về mặt hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Ông Nguyễn Văn S trình bày: Vào tối ngày 08/11/2017, Nguyễn Xuân H đã đến nhà ông S mượn 01 chiếc xe máy và ông S đã cho H mượn chiếc xe máy nhãn hiệu PENMAN, BKS 37K2-7250. Vào rạng sáng ngày 09/11/2017 thì H điều khiển xe máy về để tại sân nhà ông S. Việc H mượn chiếc xe máy để đi trộm cắp tài sản thì ông S không biết. Hiện nay ông S đã được cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Châu trả lại chiếc xe máy nói trên và không có yêu cầu bồi thường gì.

Cáo trạng số 09/VKS-HS ngày 28/12/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu đã quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Xuân H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 138 Bộ luật hình sự 1999.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như nội dung Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 điều 138; các điểm b, g, o, p khoản 1 - khoản 2 điều 46 BLHS. Xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận tòa bộ hành vi phạm tội như nội dung truy tố của Cáo trạng và không có ý kiến gì trong phần tranh luận. Bị cáo đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

[2.1] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau: Vào rạng sáng ngày 09/11/2017, Nguyễn Xuân H đã có hành vi đột nhập và lén lút chiếm đoạt một số tài sản gồm 01 Tivi, 02 đồng hồ đeo tay và 01 điện thoại di động tại nhà của chị Nguyễn Thị Thúy H. Sau khi trộm cắp được số tài sản trên thì bị cáo đã đem về nhà cất giấu và chiều ngày 09/11/2017 thì bị cáo đã đến đầu thú, khai báo hành vi phạm tội tại cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Châu.

Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa và trong quá trình điều tra là phù hợp và thống nhất với nhau, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa.

Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản của chủ sở hữu lén lút chiếm đoạt số tài sản có tổng trị giá 2.700.000đ.  Như vậy, đủ sơ sở để kết luận: Hành vi của bị cáo Nguyễn Xuân H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 138 BLHS đúng như nội dung truy tố của Cáo trạng.

[2.2] Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội. Bản thân bị cáo là người có sức khỏe, không chịu khó lao động sản xuất làm ăn lương thiện mà lại kiếm tiền từ hành vi phạm pháp. Bị cáo có đủ nhận thức để biết rằng tài sản của người khác là bất khả xâm phạm, nghiêm cấm hành vi chiếm đoạt tài sản trái phép. Nhưng do hám lợi và để có tiền phục vụ cho nhu cầu của bản thân nên bị cáo đã có hành vi chiếm đoạt tài sản trái phép. Hành vi phạm tội của các bị cáo không những đã xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Bản thân bị cáo vào năm 2013 đã bị Công an huyện Quỳ Châu xử phạt hành chính số tiền 1.500.000đ về hành vi “Xâm hại tính mạng, sức khỏe của người khác”, đến nay chưa thi hành. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm và lên cho bị cáo một mức hình phạt tương xứng nhằm răn đe, cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho gia đình và cho xã hội.

Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ thái độ biết ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo sau khi phạm tội đã đầu thú và người bị hại xin giảm nhẹ về mặt hình phạt cho bị cáo. Đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 - khoản 2 điều 51 BLHS 2015 để xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm b, g, o khoản 1 điều 46 BLHS 1999. Xét thấy, bị cáo không có hành vi tự nguyện sửa chữa hay bồi thường thiệt hại cho người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bị cáo đã có hành vi chiếm đoạt trái phép tài sản của người bị hại và hành vi phạm tội đã hoàn thành. Sau khi phát hiện bị mất tài sản thì người bị hại đã có đơn trình báo cơ quan Công an huyện Quỳ Châu và bị cáo biết hành vi phạm tội đã bị lộ nên mới đến cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Châu đầu thú. Vì vậy, không chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ nói trên cho bị cáo.

[2.3] Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo điều kiện kinh tế khó khăn và không có tài sản. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[2.4] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên miễn xét. .

[2.5] Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào khoản 1 điều 138 BLHS 1999; các điểm i, s khoản 1 - khoản 2 điều 51; điều 38 Bộ luật hình sự 2015. Căn cứ vào điều 136 BLTTHS.

- Xử phạt Nguyễn Xuân H 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09 tháng 11 năm 2017.

- Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.

- Bị cáo và người bị hại được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

133
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 09/2018/HSST ngày 30/01/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:09/2018/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Quỳ Châu - Nghệ An
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:30/01/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về