Bản án 08/2020/HS-ST ngày 24/04/2020 về tội tàng trữ hàng cấm và buôn bán hàng cấm

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ HÒA, TỈNH PHÚ THỌ

BẢN ÁN 08/2020/HS-ST NGÀY 24/04/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ HÀNG CẤM VÀ BUÔN BÁN HÀNG CẤM

Ngày 24 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2020/TLST-HS ngày 23 tháng 3 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2020/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 4 năm 2020 đối với các bị cáo:

1-VƯƠNG HỮU T, sinh năm 1972 tại xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Khu 10 xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 07/10; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông : Vương Văn L, sinh năm 1930 và bà: Nguyễn Thị K (đã chết); có vợ: Bùi Thị Kim X, sinh năm 1973 và 01 con sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 22/12/2019, thay đổi biện pháp ngăn chặn ngày 28/12/2019. Hiện được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)

2-NGUYỄN TIẾN T, sinh năm 1983 tại xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Khu 11 xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 08/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông : Nguyễn Minh T, sinh năm 1957 và bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1958; có vợ: Khổng Thị T, sinh năm 1984 và 03 người con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 22/12/2019, thay đổi biện pháp ngăn chặn ngày 28/12/2019. Hiện được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Khổng Thị T, sinh năm 1984 (Có mặt)

Địa chỉ: Khu 11 xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ

NỘI DUNG VỤ ÁN

Ni dung vụ án được tóm tắt theo bản cáo trạng số 13/CT-VKSHH ngày 20/3/2020 của VKSND huyện Hạ Hòa đã quyết định truy tố bị cáo Vương Hữu T về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 điều 190 của Bộ luật Hình sự; truy tố Nguyễn Tiến T về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 điều 191 của Bộ luật hình sự với các tình tiết phạm tội như sau:

Hi 13 giờ 30 phút ngày 22/12/2019, tổ công tác thuộc Công an huyện Hạ Hòa đang làm nhiệm vụ trên đường QL 2D tại địa bàn khu 13 xã V, huyện H (Khu 1 xã V cũ) phát hiện Nguyễn Tiến T, sinh năm 1983 ở khu 11 xã V đang điều khiển xe mô tô hiệu Honda Future, BKS 19F1-17466 chở theo một bao tải màu hồng có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng để kiểm tra. T tự nguyện giao nộp 01 túi tải xác rắn màu hồng bên trong có 05 khối hình hộp bên ngoài bọc lớp giấy nhiều màu sắc có in chữ nước ngoài, tại góc của mỗi khối hình hộp có 02 đoạn dây dẫn màu xanh và khai nhận 05 khối hình hộp trên là pháo nổ mua về để sử dụng bằng hình thức đốt. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T, thu giữ 05 khối hình hộp cùng 01 xe mô tô BKS 19F1-174.66; 01 đăng ký xe mô tô, xe máy số 001951 đứng tên Nguyễn Tiến T; 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung Galaxy J7 Pro kèm theo 01 sim số 0974150137; tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang lưu hành 247.000đ và 01 chứng minh thư nhân dân số 131472583 mang tên Nguyễn Tiến T. Tại cơ quan CSĐT- Công an huyện Hạ Hòa, T khai nhận số pháo nổ trên mua của Vương Hữu T, sinh năm 1972 ở khu 10 xã V (Khu 9 xã V cũ) ngay trước khi bị bắt. Căn cứ vào lời khai của T, Cơ quan CSĐT Công an huyện Hạ Hòa đã tiến hành khám xét khẩn cấp người và chỗ ở đối với Vương Hữu T tại khu 10 xã V. Quá trình khám xét thu giữ:

Tại gác xép tầng 2: 03 khối hình hộp bên ngoài bọc lớp giấy nhiều màu sắc có in chữ nước ngoài, tại góc của các hình hộp có 02 đoạn dây dẫn màu xanh để ở trong túi nil on màu trắng.

Thu tại túi quần bên phải đang mặc của T 01 điện thoại di động hiệu Sony XPERIA màu vàng đã qua sử dụng có gắn sim số 0982215973.

01 chứng minh thư nhân dân số 132070866 mang tên Vương Hữu T.

Ngày 23/12/2019, Cơ quan CSĐT Công an huyện Hạ Hòa đã trưng cầu giám định đối với các khối hộp thu giữ của T và T. Tại bản kết luận giám định số 50/KLGĐ ngày 25/12/2019 của Phòng KTHS Công an tỉnh Phú thọ kết luận:

“ 05 khối hộp bên trong đều có 36 vật hình trụ tròn vỏ giấy màu nâu được liên kết với nhau đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo; khi đốt có gây tiếng nổ). Khối lượng 05 khối hộp trên là 7kg (vật chứng thu giữ của Nguyễn Tiến T) “ 03 khối hộp bên trong đều có 36 vật hình trụ tròn vỏ giấy màu nâu được liên kết với nhau đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo; khi đốt có gây tiếng nổ). Khối lượng 03 khối hộp trên là 4,15kg (vật chứng thu giữ của Vương Hữu T)” Tổng khối lượng của mẫu vật gửi giám định là 11,15kg” Cơ quan CSĐT Công an huyện Hạ Hòa đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tiến hành điều tra làm rõ toàn bộ nội dung vụ án như sau:

Trong thời gian đi làm thuê giáp tết nguyên đán tại Thành phố Hà Nội, T nảy sinh ý định mua pháo nổ về bán để kiếm lời. Khoảng 10 giờ ngày 15/12/2019, T gặp một người đàn ông bán hàng rong không rõ tên tuổi, địa chỉ và hỏi mua 08 hộp pháo nổ với giá 800.000đ/hộp, tổng tiền là 6.400.000đ. Người đàn ông đồng ý và đưa cho T 01 thùng bìa cát tông bên trong chứa 08 hộp pháo nổ. Sau đó T bắt xe khách mang thùng bìa chứa pháo về nhà. Tại nhà ở của mình, T cho 08 hộp pháo nổ vào một túi nilon màu trắng rồi cất giấu tại gác xép trên tầng hai với mục đích ai hỏi mua sẽ bán. Khoảng 13 giờ ngày 22/12/2019, khi T đang ở nhà thì thấy T điều khiển xe mô tô BKS 19F1-174.66 đến và hỏi mua 05 hộp pháo nổ. T đồng ý bán với giá 850.000đ/hộp, tổng số tiền của 05 hộp pháo là 4.250.000đ. T đi lên gác xép lấy 05 hộp pháo rồi đúc vào một túi tải xác rắn màu hồng xuống đưa cho T. Do T không mang theo tiền nên T đồng ý cho T nợ, khi nào có thì trả. T để bao tải chứa 05 hộp pháo ở phía trước rồi điều khiển xe ra quán bán hàng tạp hóa ở khu 13 xã Vĩnh Chân thì bị tổ công tác thuộc Công an huyện Hạ Hòa phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên. Số pháo còn lại T cất giấu trên gác xép chưa kịp bán đã bị Cơ quan điều tra thu giữ.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Hạ Hòa giữ nguyên quyết định truy tố và khẳng định bản cáo trạng đã quyết định truy tố bị cáo Vương Hữu T, Nguyễn Tiến T về tội danh và điều luật đã nêu là hoàn toàn đúng.

Đề nghị HĐXX căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 4 điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; khoản 1,2,5 điều 65 – BLHS Tuyên bố bị cáo Vương Hữu T phạm tội: “ Buôn bán hàng cấm ”. Đề nghị xử phạt bị cáo Vương Hữu T từ 18-24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36-48 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Phạt bổ sung số tiền 20.000.000đ.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 điều 191; điểm i,s khoản 1, khoản 2 điều 51, khoản 1,3 điều 35 – BLHS Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến T phạm tội: “Tàng trữ hàng cấm”. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến T số tiền từ 120.000.000đ- 150.000.000đ. Không áp dụng hình phạt bổ sung.

Căn cứ điểm a khoản 2, điểm a, b,c khoản 3 điều 106; khoản 1, 2 điều 135; khoản 2 điều 136 - BLTTHS; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

- Trả cho bị cáo Nguyễn Tiến T chiếc xe mô tô hiệu Honda FUTURE BKS 19F1-17466; 01 chứng minh thư nhân dân số 131472583 mang tên Nguyễn Tiến T; 01 đăng ký mô tô, xe máy số 001951 đứng tên Nguyễn Tiến T; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Pro IMEIL 1: 356202092475179, IMEIL 2: 356203092475177 kèm theo 01 sim số 0974150137 có seri 8984048000045837778 và số tiền 247.000đ (hai trăm bốn mươi bảy nghìn đồng) nhưng tạm giữ số tiền 247.000đ để đảm bảo thi hành án.

-Trả lại cho Vương Hữu T 01 điện thoại di động hiệu Sony XPERIA màu vàng đã cũ đã qua sử dụng có gắn sim số 0982215973 và 01 chứng minh thư nhân dân số 132070866 mang tên Vương Hữu T.

- Tịch thu tiêu hủy 02 hộp cát tông được niêm phong dán kín, bên ngoài mỗi hộp đều có dán giấy niêm phong, trên mỗi giấy niêm phong có chữ ký của những người tham gia đóng gói, niêm phong và 02 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú thọ.

Về án phí HSST: Các bị cáo T, T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Lời khai của bị cáo Vương Hữu T và Nguyễn Tiến T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, vật chứng được thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ nên có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 22/12/2019 tại nhà ở của mình, Vương Hữu T đã bán cho Nguyễn Tiến T 05 hộp pháo nổ khối lượng 7kg và T tàng trữ 03 hộp pháo nổ khối lượng 4,15kg với mục đích để bán kiếm lời. Sau khi mua được 07 kg pháo nổ, T mang về nhà để sử dụng. Trên đường về đến khu 13 xã V, huyện H bị cơ quan CSĐT Công an huyện Hạ Hòa phát hiện bắt quả tang.

Hành vi mua bán pháo nổ trong ngày 22/12/2019 của bị cáo Vương Hữu T đã vi phạm điểm c khoản 1 điều 190 của Bộ luật hình sự và đủ yếu tố cấu thành tội " Buôn bán hàng cấm "; Hành vi của Nguyễn Tiến T đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 191- BLHS.

Khoản 1 điều 190 – BLHS quy định: “ Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232,234,244,246,248,251,253,254,304,305,306,309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 100.000.000đ đến 1.000.000.000đ hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm...” c, Sản xuất, buôn bán pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam

Khoản 1 điều 191 – BLHS quy định: “ Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232,234,239,244,246,249,250,253,254,304,305,306,309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm” c, Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;

Quyết định truy tố của VKSND huyện Hạ Hòa đối với bị cáo Vương Hữu T về tội “ Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 190 – BLHS; đối với bị cáo Nguyễn Tiến T về tội “ Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 191 - BLHS là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2]. Tính chất của vụ án nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, kinh doanh các loại hàng cấm. Chính vì vậy vụ án phải được đưa ra xét xử nghiêm nhằm giáo dục chung và phòng ngừa riêng tội phạm.

[3]. Về nhân thân: Các bị cáo Vương Hữu T, Nguyễn Tiến T được xác định không có tiền án, tiền sự. Tại phiên tòa các bị cáo nhận thức rõ về hành vi phạm tội nhưng các bị cáo vẫn cố tình mua bán pháo nổ, tàng trữ pháo nổ nhằm thu lời bất chính. Do đó cần có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội đối với mỗi bị cáo.

[4]. Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T tuy lần đầu phạm tội nhưng không thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hiện xác định bị cáo không có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 – BLHS. Bố đẻ của bị cáo là người có công với Cách mạng được tặng thưởng huân huy chương nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 điều 51 – BLHS. Xét hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo, HĐXX xét thấy cần áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo cũng đủ để bị cáo cải tạo trở thành con người lương thiện cho gia đình và xã hội. HĐXX chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về hình phạt đối với bị cáo Vương Hữu T.

Đi với bị cáo Nguyễn Tiến T: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo không có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i,s khoản 1 điều 51 – BLHS. Bố đẻ của bị cáo là người có công với Cách mạng được tặng thưởng huân huy chương nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 điều 51 – BLHS. Các bị cáo T, T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Xét hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo, HĐXX xét thấy chỉ cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính cũng đủ để giáo dục bị cáo trở thành con người lương thiện. HĐXX chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Tiến T.

[5].Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 4 điều 190 – BLHS quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Cần phạt bổ sung 20.000.000đ đối với bị cáo T.

Khon 4 điều 191 – BLHS quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Xét thấy bị cáo T được HĐXX áp dụng hình phạt chính là phạt tiền, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Tiến T.

[6]. Về xử lý vật chứng:

- Chiếc xe mô tô hiệu Honda FUTURE BKS 19F1-17466 mà T đã dùng để chở pháo nổ . Quá trình điều tra và tại phiên tòa, chị T xác định chiếc xe này là tài sản chung của vợ chồng và là phương tiện sử dụng của cả gia đình, bị cáo T sử dụng chiếc xe trên chở pháo nổ chị T không được biết. HĐXX xét thấy không cần thiết phải tịch thu chiếc xe mô tô để sung công, cần trả lại cho bị cáo T và chị Khổng Thị T chiếc xe mô tô trên.

-Số tiền 247.000đ, 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Nguyễn Tiến T, 01 đăng ký mô tô, xe máy đứng tên Nguyễn Tiến T và 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Pro…kèm theo 01 sim số 0974150137 thu giữ của T không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ số tiền 247.000đ để đảm bảo thi hành án.

- Trả lại cho Vương Hữu T 01 điện thoại di động hiệu Sony XPERIA màu vàng có gắn sim số 0982215973 và 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Vương Hữu T.

- 02 hộp cát tông được niêm phong dán kín, bên ngoài mỗi hộp đều có dán giấy niêm phong, trên mỗi giấy niêm phong có chữ ký của những người tham gia đóng gói, niêm phong và 02 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú thọ là mẫu vật được trả lại sau giám định, cần tịch thu tiêu hủy.

[7].Về tố tụng hình sự: Các quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, hành vi tố tụng của điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án; quyết định tố tụng của Viện kiểm sát và hành vi tố tụng của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[8]. Về án phí: Bị cáo Vương Hữu T, Nguyễn Tiến T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1- Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 4 điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, khoản 1,2,5 điều 65 – BLHS Tuyên bố bị cáo Vương Hữu T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Xử phạt bị cáo Vương Hữu T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Vương Hữu T cho UBND xã V, huyện H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Phạt bổ sung bị cáo Vương Hữu T số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

2-Căn cứ vào điểm c khoản 1 điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51, khoản 1,3 điều 35- BLHS Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến T phạm tội “ Tàng trữ hàng cấm” Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến T số tiền 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Tiến T.

Hy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú của TAND huyện Hạ Hòa đối với bị cáo Vương Hữu T và bị cáo Nguyễn Tiến T.

3- Căn cứ khoản 1 điều 47 – BLHS; điểm a khoản 2, điểm a, b,c khoản 3 điều 106; khoản 1, 2 điều 135; khoản 2 điều 136 - BLTTHS; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

- Trả cho bị cáo Nguyễn Tiến T chiếc xe mô tô hiệu Honda FUTURE BKS 19F1-17466; 01 chứng minh thư nhân dân số 131472583 mang tên Nguyễn Tiến T; 01 đăng ký mô tô, xe máy số 001951 đứng tên Nguyễn Tiến T; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Pro IMEIL 1: 356202092475179, IMEIL 2: 356203092475177 kèm theo 01 sim số 0974150137 có seri 8984048000045837778 và số tiền 247.000đ (hai trăm bốn mươi bảy nghìn đồng) nhưng tạm giữ số tiền 247.000đ để đảm bảo thi hành án.

-Trả lại cho Vương Hữu T 01 điện thoại di động hiệu Sony XPERIA màu vàng đã cũ đã qua sử dụng có gắn sim số 0982215973 và 01 chứng minh thư nhân dân số 132070866 mang tên Vương Hữu T.

- Tịch thu tiêu hủy 02 hộp cát tông được niêm phong dán kín, bên ngoài mỗi hộp đều có dán giấy niêm phong, trên mỗi giấy niêm phong có chữ ký của những người tham gia đóng gói, niêm phong và 02 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú thọ.

Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23/3/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hạ Hòa.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Vương Hữu T, Nguyễn Tiến T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo lên TAND tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm.


11
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 08/2020/HS-ST ngày 24/04/2020 về tội tàng trữ hàng cấm và buôn bán hàng cấm

Số hiệu:08/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hạ Hoà - Phú Thọ
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 24/04/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về