Bản án 08/2020/HSST ngày 24/02/2020 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC

BẢN ÁN 08/2020/HSST NGÀY 24/02/2020 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 24 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2020/HSST ngày 14 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2020/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

- Lê Thành U, sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn KTr, xã TQ, huyện TĐ, tỉnh VPh; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Thành L (đã chết) và bà: Phạm Thị V; có vợ: Vũ Thị D (đã ly hôn) và có 02 con: Con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2011; tiền sự, tiền án: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05/8/2019 đến ngày 14/8/2019 được tại ngoại, có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Bá Th, sinh năm: 1991; trú tại: Thôn KTr, xã TQ, huyện TĐ, tỉnh VPh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 17 giờ 40 ngày 05/8/2019, Lê Thành U ở quán bán hàng của gia đình mình tại ngã tư thôn KTr, xã TQ thì có 02 người đến tự khai là Nguyễn Văn T, sinh năm 1980 và Trần Văn T, sinh năm 1984 đều ở khu 3, xã KL, huyện TD đến quán uống nước và đặt vấn đề đánh bạc với U bằng hình thức ghi số lô, số đề, U đồng ý.

Hình thức chơi cụ thể là: Người chơi ghi số lô từ 00 đến 99 kèm theo số điểm ghi mỗi điểm lô tương ứng 22.500đ, số đề từ 00 đến 99 kèm theo số tiền ghi đề người chơi đặt cược với chủ ghi đề. Sau đó người ghi số lô thì so với 02 số cuối của tất cả các giải còn số đề thì so với hai số cuối của giải đặc biệt của xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng hồi 18 giờ 30 phút trong ngày. Nếu 02 số lô của người chơi ghi so với kết quả xổ số mở thưởng trùng với 02 số cuối của các giải thưởng thì mỗi điểm lô người chơi được hưởng 80.000đ, lô xiên (xiên 2) người chơi 1.000đ nếu trúng thì người chơi được hưởng 100.000đ, lô xiên (xiên 3) người chơi 1.000đ nếu trúng thì người chơi được hưởng 400.000đ tùy theo người chơi đặt cược xiên hai hay xiên ba, nếu 02 số đề của người chơi ghi so với kết quả xổ số mở thưởng trùng với 02 số cuối của giải đặc biệt thì mỗi 1.000đ người chơi được hưởng 70.000đ, nếu số đề không trùng với 02 số cuối của giải đặc biệt và số lô không trùng với 02 số cuối của các giải thì người chơi sẽ mất số tiền đã ghi.

Nguyễn Văn T đọc các số lô 68-86-66 mỗi số 40 điểm; 15-51 mỗi số 10 điểm (mỗi điểm lô là 22.500đ) tương ứng với số tiền là 3.150.000đ; các số đề: 50,51,52,53,54,55,56,57,58,59 mỗi số 50.000đ tương ứng với số tiền 500.000đ. Tổng số tiền T đánh bạc với U là 3.650.000đ, T đưa cho U số tiền 3.650.000đ.

Sau đó Trần Văn T đọc các số lô: 27 - 45 điểm tương ứng với số tiền là 1.012.500đ; 72 - 40 điểm, tương ứng với số tiền là 900.000đ. Tổng số tiền Trần Văn T đánh bạc với U là 1.912.500đ. Sau đó U nhập các số lô, số đề Nguyễn Văn T và Trần Văn T đánh vào tin nhắn zalo trên máy điện thoại của U có số thuê bao là 0972753319, tên tài khoản là “ai rồi cũng thay đổi” rồi gửi các tin nhắn này đến zalo có tên “Boyni”. U khai đây là zalo của Trần Bá Th, sinh năm: 1991 ở cùng thôn với U số điện thoại của Th 0386.011.011. Sau đó T đưa cho U số tiền 2.000.000đ U chưa kịp trả lại Tuấn số tiền 87.500đ thì bị Công an huyện Tam Đảo bắt quả tang.

Tang vật thu giữ gồm: Thu giữ của U số tiền 7.840.000đ ; 01 Điện thoại Sam sung galaxy A50 màu xanh bên trong có thẻ sim số 0972753319; 01 mảnh giấy ghi các số “Lô 02x 40đ, 93x 30 đ; 68x 30đ. Tổng 2250; 01mảnh giấy ô ly có ghi các số lô 29-92-13-31-70-77x 25đ = 150 x 22.5 = 3.375; ,72,78,22,77 x100k -10% = 450; 70x 110k. 3925 trả 1900 thiếu 2050,được 25 điểm 92 đã lấy 2000k thiếu 1925. Huy 36-63-90 x 20 đ = 60x 22,5 = 1350; đề 11-22-38-83 mỗi số 55k = 200k được 1600 – 1550 = 50k dư.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Đảo đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Thành U, không thu giữ đồ vật gì.

Quá trình điều tra U khai: Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày có một người đàn ông U không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể đến quán và đánh bạc với U, U đồng ý, sau đó người đàn ông này đưa cho U 01 mảnh giấy trong đó có nội dung “Lô 02x 40đ, 93x 30đ; 68x 30đ, Tổng 2.250”.Tổng số tiền người này đánh bạc với U là 2.250.000đ, sau đó người đàn ông này đưa cho U số tiền 2.000.000đ và nói “ Thiếu đâu tính sau”, U cầm tiền rồi cất vào túi.

Quá trình điều tra U khai nhận trước khi bị bắt quả tang còn tham gia đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề qua tin nhắn SMS với Trần Bá H, sinh ngày 02/3/1984 ở thôn KTr, xã TQ, là bạn quen biết ngoài xã hội số thuê bao 0979982.234, U lưu tên “HUY BAG” trong tin nhắn cơ quan điều tra thu thập được, U khai như sau:

Ngày 18/7/2019: Lô 23 = 20đ; Đề 12-21-17-71-14-14 mỗi số 33 điểm (1 điểm tương đương 1.000đ). Tổng số tiền đánh bạc là 648.000đ.

Ngày 27/7/2019: Lô 00- 22-23 mỗi số 20 điểm; đề 06-60-03-30 mỗi số 55.000đ. Tổng số tiền đánh bạc là 1.570.000. Sau khi so với kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng cùng ngày H trúng lô 22 tương đương 1.600.000đ. Tổng số tiền Uyên đánh bạc với Huy là 3.170.000đ.

Ngày 28/7/2019: Lô 30-00-66 mỗi số 20 điểm; Đề 56-65-57-75-68-86 mỗi số 55.000đ. Tổng số tiền đánh bạc là 1.680.000. Sau khi so với kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng cùng ngày, H trúng lô 30 (02 nháy) tương đương số tiền 3.200.000đ. Tổng số tiền U đánh bạc với H là 4.880.000đ.

Ngày 30/7/2019: Số lô 17-82-05 mỗi số 20 điểm; đề 55-05-50-57-75 mỗi số 22.000đ. Tổng số tiền đánh bạc là 1.460.000đ. Sau khi so với kết quả xổ số Miền Bắc mở thường cùng ngày, H trúng lô 05, đề 57 tương đương 3.140.000đ. Tổng số tiền U đánh bạc với H là 4.600.000đ.

Ngày 31/7/2019: Lô 28-82-17 mỗi số 20 điểm; 62 = 30 điểm; lô xiên 17-82= 30điểm; đề 22-33-55-00-88 mỗi số 55.000đ; Tổng số tiền đánh bạc là 2.330.000đ.

Ngày 01/82019: Lô 36-63-90 mỗi số 20 điểm; đề 11-22-38-83 mỗi số 55.000đ. Tổng số tiền đánh bạc là 1.570.000đ. Sau khi so với kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng cùng ngày, H trúng lô 36 tương đương số tiền 1.600.000 .Tổng số tiền U đánh bạc với H là 3.170.000đ.

Ngày 02/82019: Lô 17-71-57-75-72-77 mỗi số 10 điểm; đề 04-40-10-69- 55 mỗi số 55.000đ; 77-72 mỗi số 88.000đ. Tổng số tiền đánh bạc là 1.801.000đ. Sau khi so với kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng cùng ngày, H trúng lô 71, 72, 77 tương đương số tiền 2.400.000đ. Tổng số tiền U đánh bạc với Huy là 4.201.000đ.

Ngày 04/8/2019: Lô 05-50-25 mỗi số 20 điểm; lô xiên 25-50-33 = 5000đ, 57-26- 25= 5000đ; đề 05-50-30-03-53-35 mỗi số 55.000đ. Tổng số tiền đánh bạc là 1.690.000đ. Sau khi so với kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng cùng ngày, H trúng lô 05, 25 tương đương số tiền 3.200.000. Tổng số tiền U đánh bạc với H là 4.890.000đ.

Trong các ngày U đánh bạc với H lượng tiền sử dụng vào việc đánh bạc đều dưới 5.000.000đ nên không đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

Tuy nhiên, trong khoảng thời gian từ ngày 18, 27,28,39,31/7/2019 và ngày 01,02,04/8/2019 U tham gia đánh bạc với H được tổng số tiền 27.889.000đ, H thắng bạc thu lời được số tiền 15.140.000đ, số tiền này U đã trả cho H do vậy cần truy thu của U số tiền còn lại 12.749.000đ để nộp vào ngân sách nhà nước.

Ngoài ra U còn khai, ngày 16,18/7/2019 và ngày 01,03,04/8/2019 U còn đánh bạc với Th bằng hình thức U ghi các số lô, số đề vào tin nhắn zalo sau đó chuyển các số lô, số đề này cho Th - có nick name “Boyni”, U khai đây là zalo của Trần Bá Th.

Ngày 13/8/2019, Trần Bá Th giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Đảo 01 Điện thoại Iphone 6 bên trong có thẻ sim số 0865.238.683 của Th để điều tra.

Ngày 19/8/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Đảo ra Quyết định trưng cầu phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định kỹ thuật số điện tử đối với 01 Điện thoại Sam sung galaxy A50 thu giữ của U. Tại Bản kết luận giám định số 1764/KLGĐ ngày 31/8/2019 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: Khôi phục và trích xuất được dữ liệu trên Điện thoại Sam sung số IMEL135646100997295;IMEI 2356647100997293 có 419 cuộc gọi, 43 tin nhắn SMS và 89 tin nhắn zalo. Trong đó có các tin nhắn SMS thể hiện nội dung liên quan đến việc U đánh bạc với số thuê bao 0979982.234 tên “HUY BAG” vào các ngày 18, 27, 30, 31/7/2019 và ngày 01, 02, 04 /8/2019 và các tin nhắn zalo, U gửi các tin nhắn số lô, số đề đến zalo có số ID 234146376 vào các ngày 16, 18/7/2019 ngày 01, 02, 03, 04/8/2019 .

Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Đảo ra Quyết định trưng cầu phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định kỹ thuật số điện tử đối với 01 Điện thoại Iphone 6 thu giữ của Trần Bá Th. Tại Bản kết luận giám định số 1744/KLGĐ ngày 31/8/2019 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc khôi phục và trích xuất được dữ liệu trên điện thoại Iphone 6 số IMEL 35930206003421 có 23 cuộc gọi, 16 tin nhắn. Nội dung đều không liên quan đến vụ án.

Ngày 01/11/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Đảo ra Quyết định trưng cầu phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định kỹ thuật số điện tử, trích xuất toàn bộ dữ liệu đối với tài khoản zalo có ID 243146376. Tại bản Kết luận giám định số 2524/ ngày 01/12/2019 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: Tài khoản Zalo có ID 243146376 không có danh sách bạn bè; số điện thoại 0395483811 có sử dụng Zalo tên “ Boyni”.

Ngày 06/11 và ngày 3/12/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tam Đảo có Công văn số 416, 436 gửi Công ty cổ phần VNG (Công ty chủ quản của ứng dụng mạng xã hội zalo) đề nghị trích xuất, cung cấp toàn bộ thông tin của tài khoản Zalo có ID 243146376, tài khoản Zalo tên “Boiny” có đăng ký bằng số điện thoại 0386011011 không? Tại công văn ngày 14/11/2019 và số 313 ngày 10/12/2019 của Công ty cổ phần VNG trả lời: “Số điện thoại 0386011011 không có tài khoản zalo; bộ phận kỹ thuật VNG không lưu thông tin của tài khoản Zalo có ID 243146376”.

Ngày 23/8/2019 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện ra lệnh thu giữ thư tín, điện tín xác định số thuê bao 0386.011.011 mang tên Trần Bá Th, sinh ngày 09/9/1991 ở TQ, TĐ; số thuê bao 0979982234 mang tên Trần Bá H, sinh ngày 02/3/1984 ở TQ - TĐ.

Đi với Trần Bá Th, là người U khai sau khi U ghi số lô, số đề cho H sau đó U chuyển các số lô, số đề này cho Th. Quá trình điều tra,Th khai: “Từ trước đến nay Th không sử dụng mạng xã hội Zalo, Facebook hay bất cứ mạng xã hội nào”, “Th không biết việc U ghi số lô, số đề như thế nào? U chuyển bảng cho ai”, “Th sử dụng số thuê bao 0865.238.683 từ tháng 12/2018 và chỉ sử dụng số điện thoại này”, Th không sử dụng zalo tên “ Boyni”, không có tài khoản zalo nào, không đăng ký sử dụng thẻ sim nào có số 0386.011.011 cũng không liên quan đến việc U ghi số lô, số đề. Mặt khác, Quá trình điều tra xác định số điện thoại 0395483811 không phải của Th, còn số điện thoại 0386.01.011 không có tài khoản zalo, do vậy không đủ căn cứ để xác định Trần Bá Th có hành vi đánh bạc với U.

Đi với đối tượng Nguyễn Văn T và Trần Văn T đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, số đề với U ngày 05/8/2019. Quá trình làm việc lợi dụng sơ hở Nguyễn Văn T và Trần Văn T đã bỏ trốn. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại xã KL, huyện TD nhưng không có ai có lai lịch như các đối tượng đã khai nhận. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh điều tra xử lý sau.

Đi với Trần Bá H, U khai có đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, số đề với U ngày 18,27,28,30,31/7/2019 và 01,02, 04/8/2019. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã nhiều lần triệu tập nhưng H không đến, tiến hành xác minh xác định H không có mặt tại địa phương, bản thân H có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, những lần đánh bạc đều dưới 5.000.000đ không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H, đối với số tiền H thu lời khi đánh bạc với U Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh xử lý sau.

Đi với người đàn ông đã ghi số lô, số đề với U vào ngày 05/8/2019. Do U không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên không có cơ sở để xác minh. Do vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Về xử lý vật chứng:

Đi với 02 mảnh giấy ghi các số lô số đề xác định là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của U, nên cần lưu trong hồ sơ vụ án.

Đi với số tiền 7.840.000đ, Cơ quan điều tra thu giữ, trong đó có 7.562.500đ là tiền U ghi số lô, số đề nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Số tiền còn lại là 277.500đ, trong đó có 190.000 xác định là tiền do U bán hàng mà có nên trả lại cho U nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án, còn số tiền 87.500đ xác định là tiền của Trần Văn T do chưa xác định được lai lịch của T nên cần tiếp tục tạm giữ tại Cơ quan điều tra để điều tra xác minh.

Đi với 01 Điện thoại Sam sung xác định là tài sản của U, U sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu bán sung công quỹ Nhà nước .

Đi với điện thoại Iphone 6 xác định là tài sản của Th không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho Thế.

Tại Bản Cáo trạng số: 06/CT-VKSTĐ ngày 14 tháng 01 năm 2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo đã truy tố: Lê Thành U về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo giữ quyền công tố tại phiên tòa hôm nay giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo U. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Thành U phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự, phạt: Lê Thành U từ 09 tháng đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật và truy thu của U số tiền 12.749.000đ để nộp vào ngân sách nhà Nước.

Bị cáo Lê Thành U thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản cáo trạng đã nêu.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Đảo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xác định tội danh và quyết định hình phạt đối với bị cáo, do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê Thành U thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung Bản Cáo trạng đã truy tố, thể hiện như sau: Khoảng 17giờ 30 phút, ngày 05/8/2019, tại quán bán hàng của gia đình Lê Thành U ở thôn KTr, xã TQ, huyện TĐ, U đã đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề với các đối tượng tự khai là Nguyễn Văn T; Trần Văn T và người đàn ông U không biết tên, địa chỉ cụ thể với tổng số 7.812.500đ là tiền U đánh bạc thì bị Công an huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.

[4] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của những người liên quan, người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra đã thu thập được. Hành vi của bị cáo Lê Thành U đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự: “1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng…, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Do đó, Bản Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[5] Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm đến trật tự công cộng, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Vì vậy, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo là người lao động chính trong gia đình, đã ly hôn, phải nuôi con và mẹ già, trình độ học vấn thấp (học hết lớp 9) nên hiểu biết pháp luật còn hạn chế, trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa tội phạm.

[6] Về tình tiết tăng nặng: Không có.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[8] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[9] Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 7.562.500đ là số tiền U phạm tội mà có.

- Tịch thu bán phát mại sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động Sam sung thu giữ của U.

- Tạm giữ tại Cơ quan điều tra số tiền 87.500đ tiếp tục điều tra.

- Trả lại cho U số tiền 190.000 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Lưu trong hồ sơ vụ án 02 mảnh giấy có ghi các số tự nhiên.

- Trả lại cho Trần Bá Th 01 điện thoại Iphone 6.

- Truy thu của U số tiền 12.749.000đ để nộp vào ngân sách nhà Nước.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật cần chấp nhận.

[10] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Thành U phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lê Thành U 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lê Thành Uyên cho Ủy ban nhân dân xã TQ, huyện TĐ, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Trường hợp bị cáo Lê Thành U thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 7.562.500đ là số tiền Lê Thành U phạm tội mà có.

- Tịch thu bán phát mại sung công quỹ nhà nước 01 Điện thoại đi động Sam sung Galaxy A50 của Lê Thành U.

- Truy thu của Lê Thành U số tiền 12.749.000đ để nộp vào Ngân sách Nhà nước.

- Trả lại cho Lê Thành U số tiền 190.000đ nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Trả lại cho Trần Bá Thế 01 điện thoại Iphone 6 màu trắng.

(Các vật chứng trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/02/2020).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Lê Thành U phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lê Thành U có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.


21
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 08/2020/HSST ngày 24/02/2020 về tội đánh bạc

Số hiệu:08/2020/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tam Đảo - Vĩnh Phúc
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 24/02/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về