Bản án 08/2019/HS-ST ngày 18/01/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 08/2019/HS-ST NGÀY 18/01/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 18 tháng 01 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 230/2018/TLST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2019/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn P (tên gọi khác T), sinh năm 1989 tại Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ thường trú: Số 105/15 Nguyễn Thị N, Phường 9, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện tại: Khu phố 6, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Bảo vệ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 10/12; con ông Nguyễn Kim H, không rõ năm sinh và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1964; có 03 anh em, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 1996; tiền án: Ngày 17/8/2011, Tòa án nhân dân quận T, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Nguyễn P07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 187/2011/HSST, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/6/2017 và thi hành xong phần dân sự; tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 05/9/2018 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Lê Út V, sinh năm 1992; địa chỉ thường trú: Ấp G, xã H, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 01 giờ ngày 05/9/2018 tại phía trước nhà trọ Q cạnh đường H2 thuộc khu phố 6, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương, Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma túy Công an thị xã Bến Cát phối hợp cùng Công an phường Thới Hòa tổ chức tuần tra thì phát hiện Lê Út V điều khiển xe môtô hiệu Nouvo, màu đen trắng, biển số 59E1 – 620.77 chở Nguyễn Pngồi phía sau có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra hành chính. Lúc này, P dùng tay trái ném 01 (một) bịch nylon hàn kín chứa chất màu trắng dạng tinh thể xuống đường cách vị trí xe môtô biển số 59E1 – 620.77 khoảng 02 mét nên lực lượng Công an tiến hành bắt giữ P và niêm phong thu giữ vật chứng.

Quá trình điều tra, Nguyễn P khai nhận: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 04/9/2018, P đang ở quán ốc không tên cạnh đường D12, khu phố 6, phường T, thị xã B thì có nhu cầu sử dụng ma túy nên gọi điện thoại cho một người phụ nữ tên Lãm (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 1.000.000 đồng (một triệu đồng) ma túy đá, Lãm đồng ý. Khoảng 22 giờ cùng ngày, Lãm gọi nói P đến khu vực nhà kính Becamex cạnh đường TC1, khu phố 6, phường Thới Hòa, thị xã Bến Cát để mua bán ma túy, P đồng ý. Sau đó P gọi điện thoại cho Lê Út V nói V đến quán ốc chở P đi công chuyện. V điều khiển xe môtô biển số 59E1 – 620.77 đến chở P đi theo sự chỉ dẫn của P. Khi đến ngã tư đường D18A thuộc khu phố 6, phường Thới Hòa, thị xã Bến Cát, P nói V dừng xe lại đợi P đi công chuyện một lát. Lúc này, P gọi cho Lãm thì Lãm nói P đi đến trạm điện cạnh đường N1, khu phố 4, phường Mỹ Phước, thị xã Bến Cát. P đi bộ đến thì thấy Lãm đứng đợi sẵn, P lấy 1.000.000 đồng (một triệu đồng) bỏ vào một bao thuốc lá hiệu Jet rồi ném xuống đường cách trạm điện khoảng 02 mét thì Lãm cũng ném một bao thuốc lá hiệu Jet xuống đường cách vị trí P đứng khoảng 03 mét. P đi lại nhặt bao thuốc lá Lãm ném xuống đất lên, lấy một bịch ma túy bên trong và vứt bỏ bao thuốc lá, rồi đi đến chỗ V đứng đợi. P nói V chở về lại quán ốc cạnh đường D12. Khoảng 01 giờ ngày 05/9/2018, V điều khiển xe môtô biển số 59E1 – 620.77 chở P đi đến phía trước nhà trọ Q cạnh đường H2 thuộc khu phố 6, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương thì bị lực lượng Công an bắt quả tang.

Theo Kết luận giám định số 545/MT-PC09 ngày 10/9/2018 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có trọng lượng 0,4100 gam. Mẫu vật sau giám định được niêm phong, có trọng lượng 0,3344 gam.

Đi với xe môtô biển số 59E1 – 620.77 do ông Trương Thanh T (hộ khẩu thường trú: Số 25/5A C, Phường 7, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên chủ sở hữu. V khai nhận đã mua xe này tại một tiệm cầm đồ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh (không rõ địa chỉ) nhưng không làm thủ tục sang tên. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã Bến Cát đã tiến hành tra cứu xe môtô biển số 59E1 – 620.77 này trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng và đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng không có kết quả.

Đi với điện thoại di động (không rõ nhãn hiệu) mà P sử dụng liên lạc với Lãm để mua ma túy thì P đã làm rớt mất điện thoại trên đường đi mua ma túy về nên không thu giữ được.

Tại bản Cáo trạng số 12/CT-VKSBC ngày 19/12/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Pvề tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà phát biểu ý kiến: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Pvề tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Ptừ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

- Về xử lý vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) Bì thư dán kín số 545/MT-PC09 được niêm phong có hình dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương chứa 0,3344 gam Methamphetamine.

Bị cáo Nguyễn Pđã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Trong quá điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến về quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, nội dung bản Cáo trạng số 12/CT-VKSBC ngày 19/12/2018 và Kết luận giám định số 545/MT-PC09 ngày 10/9/2018 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương.

Tại phiên tòa, bị cáo không đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận gì để đối đáp với Kiểm sát viên về nội dung luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Những chứng cứ xác định có tội:

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Pđã thành khẩn khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, các tài liệu, chứng cứ thu giữ trong vụ án, biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng. Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận:

Vào lúc 01 giờ ngày 05/9/2018 tại phía trước nhà trọ Quyết Thi cạnh đường H2 thuộc khu phố 6, phường Thới Hòa, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, Nguyễn P đã có hành vi cất giấu 01 (một) bịch ma túy loại Methamphetamine, trọng lượng 0,4100 gam. Nguyễn P khai nhận tàng trữ ma tuý nhằm mục đích sử dụng. Do đó, hành vi mà bị cáo Nguyễn P đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

3 Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây tác hại xấu đến trật tự công cộng và an toàn xã hội. Việc mua, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội như: Trộm cắp, cướp giật, đặc biệt là nguy cơ lây nhiễm căn bệnh HIV/AIDS qua con đường tiêm chích ma túy. Loại ma túy mà bị cáo tàng trữ là Methamphetamine, đây là loại độc dược gây nghiện, có nhiều tác hại cho sức khỏe con người. Hiện nay, tệ nạn hút chích ma túy đang là gánh nặng cho gia đình và xã hội, trong khi Nhà nước không ngừng tuyên truyền giáo dục và vận động toàn xã hội ra sức đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy thì vẫn còn những người vì mục đích tư lợi đã lén lút họat động tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy, bất chấp pháp luật và hậu quả gây ra cho xã hội.

Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khung hình phạt nên chỉ xét xử ở khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 17/8/2011, bị cáo P bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 187/2011/HSST. Ngày 05/9/2019, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới. Như vậy, bị cáo P chưa được xoá án tích mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới. Do đó, bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo thuộc trường hợp được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn P là người có nhân thân xấu từng bị kết án về hành vi mua bán trái phép chất ma túy năm 2011. Sau khi chấp xong hình phạt, bị cáo không cố gắng tu dưỡng đạo đức bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy thể hiện thái độ xem thường pháp luật của bị cáo. Do đó, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cân nhắc đối với nhân thân của bị cáo. Do vậy, cần phải có mức hình phạt nghiêm minh, tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Xét thấy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục giúp bị cáo ý thức rõ hơn về hành vi của bản thân và chính sách khoan hồng của pháp luật chỉ được áp dụng cho những người thực sự biết ăn năn hối cải.

Đi chiếu với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên có cơ sở chấp nhận.

[4] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

Đi với chiếc xe môtô hiệu Nouvo, màu đen trắng, biển số 59E1 – 620.77: Chiếc xe này do ông V quản lý và sử dụng. Ông V khai nhận mua tại một tiệm cầm đồ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh (không rõ địa chỉ) nhưng không làm thủ tục sang tên. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã Bến Cát đã tiến hành tra cứu xe trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng và đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng không có kết quả. Đồng thời, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã Bến Cát không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông V. Do đó, ngày 04/01/2019, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã Bến Cát ra Quyết định xử lý vật chứng số 32 giao trả chiếc xe này cho ông Lê Út V là có đúng pháp luật.

Đi với 01 (một) Bì thư dán kín số 545/MT-PC09 được niêm phong có hình dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương bên trong có chứa 0,3344 gam Methamphetamine: Đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ và lưu hành. Căn cứ theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần phải tịch thu, tiêu hủy.

[5] Đối với người phụ nữ tên L (không rõ nhân thân, lai lịch) có hành vi bán ma túy cho P, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã Bến Cát tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau, khi xác định được sẽ xử lý sau.

[6] Đối với hành vi của Lê Út V: Mặc dù V có hành vi chở bị cáo P đi mua ma tuý. Tuy nhiên, căn cứ theo lời khai của bị cáo P và V cho thấy dù V đi cùng với bị cáo P nhưng do bị cáo P không nói cho V biết là đi mua ma túy và V cũng không biết P mua ma túy. Do đó Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã Bến Cát không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với V là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn P phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn P 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 05/9/2018.

2. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên không đặt ra xem xét.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) Bì thư dán kín số 545/MT-PC09 được niêm phong có hình dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dương bên trong có chứa 0,3344 gam Methamphetamine.

(Vật chứng được thể hiện tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04/01/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát giữa Công an thị xã Bến Cát và Chi cục Thi hành án dân thị xã Bến Cát)

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai./.


29
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 08/2019/HS-ST ngày 18/01/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:08/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bến Cát - Bình Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 18/01/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về