Bản án 08/2019/HNGĐ-ST ngày 13/06/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 08/2019/HNGĐ-ST NGÀY 13/06/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Ngày 13 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 08/2019/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2019 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2019/QĐXX-ST ngày 13/5/2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Quách Thị D - Sinh năm 1990. (Có mặt)

Nơi ĐKNKTT: Thôn CP, xã NK, huyện NL, tỉnh Thanh Hóa

Nơi cư trú: Làng C, xã ĐT, huyện NL, tỉnh Thanh Hóa.

Bị đơn: Anh Phạm Ngọc T - Sinh năm 1989. (Vắng mặt lần thứ hai)

Địa chỉ: Thôn CP, xã NK, huyện NL, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 18/01/2019, được bổ sung trong bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn là chị Quách Thị D trình bày: Chị và anh Phạm Ngọc T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 29/01/2010 tại UBND xã NK, huyện NL tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T không tu trí làm ăn, không quan tâm đến vợ con và gia đình, mâu thuẫn vợ chồng phát sinh và kéo dài đến tháng 10/2017 thì trở nên trầm trọng, nên chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ và sống ly thân với anh T không ai quan tâm đến ai. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Phạm Ngọc T theo quy định pháp luật.

Về con cái: Chị và anh Phạm Ngọc T có 02 con chung là Phạm Minh H - Sinh ngày 13/12/2010 và Phạm Bảo N - Sinh ngày 01/6/2013, vợ chồng ly hôn chị đề nghị Tòa án giải quyết giao 02 con cho chị trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và chị tự nguyện không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Phạm Ngọc T có mặt theo địa chỉ ghi trong đơn khởi kiện, nhưng khi Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, quyết định phân công Thẩm phán giải quyết vụ án cho anh Phạm Ngọc T, thì anh T tránh mặt và bỏ đi khỏi địa phương không thông báo địa chỉ cho chị Quách Thị D và gia đình, nên chị và gia đình không biết anh Phạm Ngọc T cư trú ở đâu và làm gì, Tòa án đã phối hợp với chính quyền địa phương lập biên bản không tống đạt được và tiến hành niêm yết các loại văn bản giấy tờ tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng anh Phạm Ngọc T vắng mặt không rõ lý do. Theo xác nhận của chính quyền địa phương, khi chị D làm thủ tục xin ly hôn và Tòa án triệu tập anh T thì anh T đang có mặt tại địa phương, sau khi Tòa án triệu tập thì anh T mới đi khỏi địa phương. Tòa án xét thấy việc anh Phạm Ngọc T vắng mặt thuộc trường hợp bị đơn cố tình dấu địa chỉ, từ chối khai báo, nên tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Việc tuân theo pháp luật Tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ khi thụ lý cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn thực hiện việc tuân theo pháp luật phù hợp với quy định của pháp luật, việc bị đơn vắng mặt tại các phiên họp, phiên hòa giải và tại phiên tòa là bị đơn tự bỏ đi quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử cho chị Quách Thị D được ly hôn anh Phạm Ngọc T và giao 02 con cho chị D nuôi dưỡng chăm sóc, chấp nhận sự tự nguyện của chị D về việc không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung và chị D phải chịu án phí ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định.

[1]. Về hôn nhân: Căn cứ lời trình bày chị Quách Thị D và giấy chứng nhận kết hôn giữa anh Phạm Ngọc T và chị Quách Thị D, đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh T là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Xét nguyện vọng ly hôn của chị Quách Thị D thấy rằng: Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Phạm Ngọc T không trình bày ý kiến về việc chị D xin ly hôn, không tham gia phiên hòa giải, không tham gia phiên tòa, điều đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Quách Thị D.

[2]. Về con chung: Căn cứ lời trình bày của chị Quách Thị D và giấy khai sinh đủ cơ sở xác định chị Quách Thị D và anh Phạm Ngọc T có 02 con chung là Phạm Minh H - Sinh ngày 13/12/2010 và Phạm Bảo N - Sinh ngày 01/6/2013. Xét đề nghị xin được nuôi con và tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị D thấy rằng: Trong quá trình giải quyết vụ án anh Phạm Ngọc T không trình bày ý kiến về việc giao nuôi con và cố tình trốn tránh vắng mặt, nên không có căn cứ để giao con cho anh T chăm sóc nuôi dưỡng, nên chấp nhận đề nghị của chị D là phù hợp.

[3]. Về tài sản: Chị Quách Thị D không đề nghị Toà án giải quyết và anh Phạm Ngọc T cũng không có ý kiến về phần tài sản, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về phần tài sản.

[4]. Về trình tự thủ tục giải quyết vắng mặt anh Phạm Ngọc T Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong đơn khởi kiện chị Quách Thị D đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ của người bị kiện là anh Phạm Ngọc T, nhưng sau khi Tòa án thụ lý không tống đạt được các văn bản tố tụng cho anh Phạm Ngọc T là do anh T cố tình lẩn tránh vắng mặt và thay đổi nơi cư trú, không thông báo cho chị Quách Thị D và gia đình biết về nơi cư trú của mình được coi là cố tình dấu địa chỉ, Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao, Hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án.

[5]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát Hội đồng xét xử xét thấy: Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật, nên chấp nhận.

[6]. Về án phí: Chị D phải chịu án phí ly hôn theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 227 và khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Quách Thị D.

* Về hôn nhân: Chị Quách Thị D được ly hôn anh Phạm Ngọc T.

* Về con chung: Giao cháu Phạm Minh H - Sinh ngày 13/12/2010 và Phạm Bảo N - Sinh ngày 01/6/2013 cho chị Quách Thị D trực tiếp trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên. Chấp nhận sự tự nguyện của chị D không yêu cầu anh Phạm Ngọc T cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Phạm Ngọc T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, ngăn cấm.

 * Về án phí: Chị Quách Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị D đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số: AA/2016/0002074 ngày 30/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc. Chấp nhận chị Quách Thị D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo: Chị Quách Thị D đươc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Phạm Ngọc T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


55
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về