Bản án 08/2018/HS-ST ngày 13/03/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG

BẢN ÁN 08/2018/HS-ST NGÀY 13/03/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 13 tháng 3 năm 2018. Tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2018/HSST ngày 30 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 11/2018/QĐXXST- HS ngày 26 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo:

PHẠM VĂN H (Tên gọi khác: Không); sinh ngày 02/12/1978; Tại: MT, LT, Bắc Ninh;

Nơi đăng ký HKTT: thôn ĐT, xã MT, huyện LT, tỉnh Bắc Ninh; Chỗ ở: Lang thang;

Nghề nghiệp: không nghề; trình độ học vấn: 5/12PT; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam;

Con ông: Phạm Quốc H, sinh năm 1951; Con bà: Nguyễn Thị D, sinh năm 1953. Cùng cư trú tại: thôn ĐT, xã MT, huyện LT, tỉnh Bắc Ninh;  Vợ, con: chưa có;

Anh chị em ruột: có 02 anh chị em ruột, bị cáo là con út trong gia đình;

Tiền án: không; tiền sự: không;

Nhân thân: Ngày 2010 bị Tòa án nhân dân quận Long Biên xử phạt 18 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản;

Bị cáo bị bắt ngày 07/12/2017. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; "Có mặt".

1. Đỗ Thị M - Sinh năm 1964;

Nơi cư trú: tổ HL, phường HG, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng; "Vắng mặt, có lý do".

2. Nguyễn Văn B - Sinh năm 1966;

Nơi cư trú: Tổ B, phường TG, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng; "Vắng mặt, có lý do".

Người có quyền lợi liên quan: Hoàng Xuân Q - Sinh năm 1977;

Nơi cư trú: Tổ H, phường ĐT, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng; "Vắng mặt, có lý do".

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diến biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 06/11/2017 cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng nhận được đơn trình báo của bà Đỗ Thị M (Sinh năm 1964, nơi đăng ký HKTT: Tổ HL, phường HG, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng) về việc: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 10/10/2017 bà M đến làm cỗ cưới tại đầu cầu NC thuộc tổ MB, phường SB, thành phố CB và để chiếc mũ bảo hiểm tại bàn làm cỗ, bên trong mũ có chiếc túi xách màu nâu đựng số tiền là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng), 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S6 Edge màu vàng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime màu trắng. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày thì phát hiện số tài sản trên bị mất nên bà M làm đơn trình báo đề nghị cơ quan giúp đỡ tìm lại tài sản.

Sau khi nhận được đơn trình báo, đội Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng đã tiến hành điều tra, xác minh và xác định được đối tượng thực hiện vụ trộm cắp tài sản trên là Phạm Văn H (sinh năm 1978, nơi đăng ký HKTT: ĐT, MT, LT, Bắc Ninh). Qua đấu tranh khai thác mở rộng xác định ngoài vụ trộm cắp trên H còn thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản khác vào ngày 07/12/2017 tại Tổ B, phường TG, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng.

Tại cơ quan điều tra Phạm Văn H khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau: Do không có tiền sử dụng ma túy và chi tiêu cho cá nhân nên trong khoảng thời gian từ ngày 10/10/2017 đến ngày 07/12/2017 H đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản đem bán lấy tiền về mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân. Cụ thể:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng 13 giờ ngày 10/10/2017, H một mình đi bộ từ gầm cầu NC thuộc tổ MB, phường SB, thành phố CB  ra khu vực Bến xe khách thành phố CB để tìm mua ma túy về sử dụng, khi đến đoạn đầu cầu NC thì thấy 01 chiếc mũ bảo hiểm màu hồng, trong mũ có chiếc túi xách màu nâu của bà Đỗ Thị M để trên bàn bán thịt lợn đầu cầu nên H đã nảy sinh ý định chiếm đoạt. Quan sát không thấy có người trông coi nên H đã lấy trộm chiếc mũ và túi xách này rồi mang xuống gầm cầu NC kiểm tra thấy bên trong túi xách có 200.000đ (hai trăm nghìn đồng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S6 Edge màu vàng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime màu trắng, H đã lấy số tài sản này rồi vứt túi xách và chiếc mũ bảo hiểm tại gầm cầu NC. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày H đem chiếc điện thoại Samsung Galaxy S6 Edge màu vàng đến cửa hàng điện thoại CT thuộc tổ H, phường ĐT, thành phố CB bán cho anh Hoàng Xuân Q (là chủ cửa hàng) được 1.000.000đ (một triệu đồng). Sau đó đến trưa ngày 11/10/2017 H đem chiếc điện thoại Samsung Galaxy J7 Prime màu trắng đến cửa hàng điện thoại không rõ biển hiệu tại huyện LT, tỉnh Bắc Ninh bán được 1.600.000đ (một triệu sáu trăm nghìn đồng). Toàn bộ số tiền đã trộm cắp và bán điện thoại có được H đã sử dụng hết để mua ma túy về sử dụng và tiêu xài cá nhân.

Vụ thứ hai: Vào khoảng 06 giờ ngày 07/12/2017, H một mình đi bộ từ khu vực Bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng đến khu vực phường HG, thành phố CB với mục đích tìm tài sản để lấy trộm. Khi đến trước cửa nhà kho của anh Nguyễn Văn B (sinh năm: 1971; HKTT: tổ B, phường TG, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng) thì H thấy có nhiều khung giàn giáo để trước cửa, quan sát không thấy có người trông coi H đã lấy trộm 05 khung giàn giáo rồi mang đi tìm nơi bán nhưng chưa kịp bán thì bị anh B phát hiện và đưa về trụ sở Công an thành phố CB để giải quyết.

Quá trình điều tra người bị hại Đỗ Thị M trình bày: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 10/10/2017 bà đi làm cỗ cưới tại đầu cầu NC thuộc tổ MB, phường SB, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng. Khi làm cỗ bà có để chiếc mũ bảo hiểm ngay cạnh chỗ bà nấu cỗ, trong mũ bảo hiểm có 01 túi xách màu nâu, bên trong túi xách có 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy S6 Edge màu vàng, 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J7 Prime màu trắng và tiền mặt 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Đến 15 giờ cùng ngày bà mới phát hiện bị mất trộm toàn bộ số tài sản trên. Chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy S6 Edge màu vàng bà mua từ tháng 6/2016 với số tiền 19.000.000đ (mười chín triệu đồng); chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy J7 Prime màu trắng bà mua từ tháng 6/2017 với giá 7.800.000 đồng; chiếc 01 túi xách màu nâu bà mua từ tháng 01/2016 với giá 70.000đ (bảy mươi nghìn đồng). Còn chiếc mũ bảo hiểm mua từ lâu và đã cũ, thời điểm mua có giá 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng). Bà M yêu cầu cơ quan chức năng xử lý đối tượng đã trộm cắp số tài sản của bà đúng quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra người bị hại Nguyễn Văn B trình bày: Vào khoảng 6 gờ 15 phút ngày 07/12/2017 ông đang ngồi uống nước tại quán cà phê BG thuộc tổ BH, phường HG, thành phố CB thì phát hiện một nam thanh niên khoảng 40 tuổi đang bê một khung giàn giáo hình tam giác bằng sắt đi từ hướng rạp hát NT về hướng cầu BG. Nghi vấn nam thanh niên này trộm cắp tài sản của ông nên ông đã chặn lại hỏi thì được biết số khung giàn giáo này người đó vừa lấy trộm ở gần cổng rạp hát NT nên ông đã yêu cầu nam thanh niên này đến trụ sở Công an thành phố CB để làm rõ. Sau đó, ông quay về nơi ông đã để khung giàn giáo tại đối diện cổng rạp hát NT chếch về hướng TG thuộc tổ B, phường TG, thành phố CB thì phát hiện bị mất 05 (năm) khung giàn giáo hình tam giác màu đỏ xám bằng sắt đúng với đặc điểm số giàn giáo mà nam thanh niên trên đã lấy trộm. 05 (năm) khung giàn giáo có đặc điểm nói trên ông mua từ tháng 10/2013 với giá 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng)/1 khung. Ông khẳng định số giàn giáo trên là của ông vì khi đưa đối tượng trộm khung giàn giáo đến trụ sở Công an thành phố Cao Bằng để làm việc, ông có về nơi ông để khung giàn giáo thuộc tổ B, phường TG, thành phố CB kiểm tra thì phát hiện bị mất 05 (năm) khung giàn giáo có đặc điểm nói trên. Đồng thời căn cứ vào lời khai của đối tượng đã trộm số giàn giáo nói trên thì xung quanh nơi đối tượng lấy trộm không có ai khác để giàn giáo. Ông yêu cầu cơ quan chức năng xử lý đối tượng đã trộm cắp giàn giáo của ông đúng quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra người có quyền lợi liên quan Hoàng Xuân Q trình bày: Ông làm nghề sửa chữa, mua bán điện thoại di động tại cửa hàng CT (do ông làm chủ) thuộc tổ H, phường ĐT, thành phố CB. Vào khoảng 17 giờ một ngày giữa tháng 10/2017 (không nhớ rõ ngày) ông đang ở cửa hàng điện thoại thì có một người đàn ông khoảng 40 tuổi (không biết tên, địa chỉ) đến nói là muốn bán chiếc điện thoại, ông có hỏi là điện thoại này của ai thì người đó nói là của chị gái nhờ bán. Ông xem qua điện thoại thì thấy không cài mật khẩu, kiểm tra thông tin điện thoại, đặc điểm chiếc điện thoại là điện thoại Samsung Galaxy S6 Edge màu vàng, máy vẫn tốt nên ông trả giá 1.000.000đ (một triệu đồng), người đó đồng ý bán, ông trả tiền người đó đi về. Ông mua chiếc điện thoại trên mục đích để sử dụng cho bản thân. Khi mua người đó nói là của chị gái nhờ bán nên ông mua. Ông không biết chiếc điện thoại đó là do trộm cắp mà có. Ông đã tự giác giao nộp chiếc điện thoại đó cho cơ quan Công an để phục vụ cho công tác điều tra. Số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) ông bỏ ra mua chiếc điện thoại ông không yêu cầu bồi thường.Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã ra Quyết định trưng cầu định giá tài sản số 158/CQĐT ngày 13/11/2017 và số 06/CQĐT ngày 12/12/2017 đối với vật chứng vụ án. Tại bản Kết luận về việc định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 47 ngày 23/11/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cao Bằng kết luận: “01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S6 Ed e 32GB màu vàng, mua và sử dụng từ tháng 6/2016 có giá trị còn lại là 6.000.000 (sáu triệu đồng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime màu trắng, mua và sử dụng từ tháng 6/2017 có giá trị còn lại là 4.400.000đ; 01 mũ bảo hiểm nhãn hiệu nón thể thao màu hồng, mua và sử dụg từ tháng 6/2017 có giá trị còn lại là 64.000đ; 01 túi xách iả da màu nâu, mua và sử dụng  từ tháng 01/2016 có giá trị còn lại là 20.000đ Tổng giá trị tài sản là: 10.484.000đ (mười triệu bốn trăm tám mươi tư nghìn đồng). Tại bản Kết luận về việc định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 50 ngày 15/12/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cao Bằng kết luận: “05 khung giàn giáo bằng sắt hình tam giác, kích thứớc 1m x 1,3m x 1,6m, mua và sử dụng từ tháng 10/2013, hiện tại sử dụng bình thường có giá trị còn lại là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

Như vậy tổng giá trị tài sản mà Phạm Văn H đã trộm cắp được của các  bị hại là: 10.884.000đ (mười triệu tám trăm tám mươi tư nghìn đồng).

Hành vi của Phạm Văn H đã bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng lập hồ sơ đề nghị truy tố trước pháp luật về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại bản cáo trạng số: 06/CT - VKSTP ngày 29 tháng 01 năm 2018 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố Phạm Văn H về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của Phạm Văn H đủ yếu tố cấu thành tội: "Trộm cắp tài sản". Phạm Văn H trộm cắp tài sản trên mục đích đem bán lấy tiền để mua ma túy về sử dụng và chi tiêu cá nhân.

Tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn H khai nhận về hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo thừa nhận: Do không có tiền sử dụng ma túy và chi tiêu cho bản thân nên trong thời gian từ ngày 10/10/2017 đến ngày 07/12/2017, Phạm Văn H đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S6 Edge 32GB màu vàng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime màu trắng; 01 mũ bảo hiểm nhãn hiệu nón thể thao màu hồng; 01 túi xách giả da màu nâu và 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền mặt của bà Đỗ Thị M; 05 khung giàn giáo bằng sắt của ông Nguyễn Văn B. Đồng thời bị cáo cũng thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng phản ánh đúng thực tế hành vi phạm tội của bị cáo và truy tố bị cáo về tội danh, điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội. Thừa nhận giá trị tài sản bị cáo trộm cắp là 10.884.000đ (mười triệu tám trăm tám mươi tư nghìn đồng). Mục đích của việc trộm cắp những tài sản trên là đem bán lấy tiền để mua ma túy về sử dụng và tiêu xài cá nhân.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn H và người bị hại nhất trí với kết luận định giá tài sản và không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cao Bằng.

Lời khai của người bị hại, người có quyền lợi liên quan tại cơ quan điều tra hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay. Tại phiên tòa người bị hại Đỗ Thị M vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt) đã nhận lại tài sản (01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S6 Edge 32GB màu vàng; 01 túi xách giả da màu nâu; 01 mũ bảo hiểm nhãn hiệu nón thể thao màu hồng). Còn 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime màu trắng và 200.000đ tiền mặt (bà M chưa nhận lại tài sản) nhưng bà không yêu cầu bị cáo bồi thường. Tại phiên tòa người bị hại Nguyễn Văn B vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt), đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Về trách nhiệm hình sự: các bị hại đề nghị Tòa án xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa người có quyền lợi liên quan Hoàng Xuân Q vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì.Tại phiên toà Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Phạm Văn H về tội danh, điều luật như đã nêu trong bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:  Áp dụng khoản 1 Điều 138;  điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999.

- Xử phạt bị cáo Phạm Văn H với mức án từ 12 tháng đến 18 tháng tù về tội: "Trộm cắp tài sản";

 Hình phạt bổ sung (phạt tiền): bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho người bị hại theo quy định của pháp luật.

- Xử lý vật chứng: không có.

- Về án phí: theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ nhà nước. phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Khi được nói lời sau cùng,  bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai, bị cáo hối hận về việc đã làm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ tội cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Quá trình điều tra người bị hại không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Cụ thể: Vào khoảng 13 giờ ngày 10/10/2017, H một mình đi bộ từ gầm cầu NC thuộc tổ MB, phường SB, thành phố CB ra khu vực Bến xe khách thành phố CB. Khi đến đoạn đầu cầu NC, H nhìn thấy 01 chiếc mũ bảo hiểm màu hồng, trong mũ có chiếc túi xách màu nâu để trên bàn bán thịt lợn ở đầu cầu nên H nảy sinh ý định chiếm đoạt. Quan sát không thấy có người trông coi nên H đã lấy trộm chiếc mũ và túi xách rồi mang xuống gầm cầu NC kiểm tra thấy bên trong túi xách có 200.000đ (hai trăm nghìn đồng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S6 Edge màu vàng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime màu trắng, H đã lấy số tài sản này rồi vứt túi xách và chiếc mũ bảo hiểm tại gầm cầu NC. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày H đem chiếc điện thoại Samsung Galaxy S6 Edge màu vàng đến cửa hàng điện thoại ở phường ĐT, thành phố CB bán cho ông Hoàng Xuân Q (là chủ cửa hàng điện thoại CT) được 1.000.000đ (một triệu đồng). Sau đó H đi xe khách về quê ở huyện LT, tỉnh Bắc Ninh. Đến trưa ngày 11/10/2017 H đem chiếc điện thoại Samsung Galaxy J7 Prime màu trắng đến cửa hàng điện thoại không rõ biển hiệu tại huyện LT, tỉnh Bắc Ninh bán được 1.600.000đ (một triệu sáu trăm nghìn đồng). Số tài sản bị cáo lấy trộm được ở trên sau này H mới biết là của bà Đỗ Thị M cư trú tại tổ HL, phường HG, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng. Toàn bộ số tiền đã trộm cắp và bán điện thoại có được H đã sử dụng hết để mua ma túy về sử dụng và tiêu xài cá nhân.

Ngoài ra, vào ngày 07/12/2017 khoảng 06 giờ, H một mình đi bộ từ khu vực Bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng đến khu vực dốc pháo đài gần rạp NT thuộc phường HG, thành phố CB thì phát hiện có một đống khung giàn giáo hình tam giác bằng sắt để ở phía đối diện cổng rạp hát  NT, quan sát không thấy có người trông coi H đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền mua ma túy sử dụng. H đã lấy trộm 05 khung giàn giáo rồi mang đi tìm nơi bán nhưng chưa kịp bán thì bị một người đàn ông phát hiện và đưa về trụ sở Công an thành phố Cao Bằng giải quyết. Sau này bị cáo mới biết số tài sản bị cáo lấy trộm được là của ông Nguyễn Văn B, cư trú tại tổ B, phường TG, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng.

Xét thấy lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: do không có tiền sử dụng ma túy và chi tiêu cho bản thân nên trong thời gian từ ngày 10/10/2017 đến ngày 07/12/2017, Phạm Văn H đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S6 Edge 32GB màu vàng có giá trị là 6.000.000 (sáu triệu đồng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime màu trắng, có giá trị là 4.400.000đ (bốn triệu bốn trăm nghìn đồng); 01 mũ bảo hiểm nhãn hiệu nón thể thao màu hồng, có giá trị là 64.000đ (sáu mươi tư nghìn đồng); 01 túi xách giả da màu nâu, có giá trị là 20.000đ (hai mươi nghìn đồng) và 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền mặt của bà Đỗ Thị M; 05 khung giàn giáo bằng sắt có giá trị là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) của ông Nguyễn Văn B.Tổng giá trị tài sản mà Phạm Văn H chiếm đoạt là 10.884.000đ (mười triệu tám trăm tám mươi tư nghìn đồng).

Bị cáo Phạm Văn H đã có hành vi lén lút lấy trộm tài sản của bà Đỗ Thị M và ông Nguyễn Văn B, ý định đem bán lấy tiền để sử dụng ma túy và chi tiêu cá nhân. Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu của người khác về tài sản được pháp luật bảo vệ.

Bị cáo là người đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự. Là người đủ năng lực nhận thức, năng lực hành vi, là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình gây ra.

Mục đích của bị cáo là trộm cắp tài sản đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Bị cáo nhận thức được hành vi bị cáo thực hiện là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Trong vụ án này Hội đồng xét xử xác định bị cáo H thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Giá trị tài sản bị cáo H chiếm đoạt là 10.884.000đ (mười triệu tám trăm tám mươi tư nghìn đồng).

Như vậy, hành vi của bị cáo Phạm Văn H đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) Điều 138 - Tội trộm cắp tài sản:

"1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng, hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội..."

Bộ luật hình sự năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 nhưng vụ án này hành vi phạm tội của bị cáo bị phát hiện, khởi tố, điều tra trước ngày 01/01/2018, mặc dù truy tố sau ngày 01/01/2018 nhưng đối với hành vi của bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 có khung hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 khung hình phạt tù cũng từ sáu tháng đến ba năm, khung hình phạt của 2 điều luật là ngang nhau nên khi xét xử bị cáo vẫn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 để giải quyết (Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội và Văn bản 04/TANDTC-PC ngày 09/01/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao về việc áp dụng BLHS năm 2015 và Nghị quyết số 41 của Quốc hội).

Bị cáo Phạm Văn H là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức rõ hành vi bị cáo thực hiện là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn có tiền để sử dụng ma túy và chi tiêu cá nhân, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo có 01 tiền án về tội Cưỡng đoạt tài sản (Đã được xóa án tích). Mặc dù đã được cải tạo, giáo dục nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho mình, sau khi trở về địa phương vẫn không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân, coi thường pháp luật để đáp ứng cho nhu cầu của cá nhân, bị cáo cố tình thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Phạm Văn H theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) về tội trộm cắp tài sản là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: lợi dụng sự sơ hở, sự thiếu cảnh giác của chủ sở hữu tài sản, ngay giữa ban ngày một mình bị cáo đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S6 Edge 32GB màu vàng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime màu trắng; 01 mũ bảo hiểm nhãn hiệu nón thể thao màu hồng; 01 túi xách giả da màu nâu và 200.000đ tiền mặt của bà Đỗ Thị M; 05 khung giàn giáo bằng sắt của ông Nguyễn Văn B trên địa bàn phường SB và phường HG, thành phố CB để phục vụ cho việc sử dụng ma túy và chi tiêu của bản thân. Hành vi của bị cáo là trái pháp luật, là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó không những chỉ xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng đến trật tự xã hội tại địa phương, gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Giá trị tài sản bị cáo H chiếm đoạt là 10.884.000đ (mười triệu tám trăm tám mươi tư nghìn đồng). Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội dưới hình thức lỗi cố ý trực tiếp, mục đích vụ lợi. Vì vậy việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là đúng và cần thiết. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm trước pháp luật, có như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có trình độ học vấn 5/12 PT, là người có sức khỏe, có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng do không chịu tu dưỡng bản thân nên bị cáo đã phạm tội. Muốn có tiền để sử dụng ma túy và chi tiêu cá nhân bị cáo đã có hành vi trộm cắp tài sản, chiếm đoạt tài sản của người khác. Bị cáo nhận thức được hành vi mình thực hiện là vi phạm pháp luật, song vì mục đích vụ lợi, bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Bị cáo đã 01 lần bị kết án về tội Cưỡng đoạt tài sản: Năm 2010 bị Tòa án nhân dân quận Long Biên xử phạt 18 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản đã được xóa án tích. Xét nhân thân bị cáo là người có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện ma túy. Bị cáo đã được cải tạo, giáo dục nhưng khi trở về địa phương không lấy đó làm bài học cho mình, vẫn không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân lại tiếp tục lao vào con đường phạm tội. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của người khác trong việc quản lý tài sản để thực hiện hành vi trộm cắp phục vụ cho nhu cầu cá nhân. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận về hành vi mình đã thực hiện. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự "Thành khẩn khai báo" được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, cần áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ này.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự "Thành khẩn khai báo" quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009);

Tình tiết tăng nặng trách nhiêm hình sự: không có.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; Xử phạt bị cáo Phạm Văn H với mức án từ 12 đến 18 tháng tù. Hội đồng xét xử xét thấy mức đề nghị về hình phạt trên là phù hợp với quy định của pháp luật, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi bị cáo thực hiện nên cần chấp nhận.

Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, căn cứ tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, căn cứ vào nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi bị cáo đã thực hiện. Cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội, làm gương cho người khác.

Về hình phạt bổ sung: tại khoản 5 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng". Vì vậy bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với Hoàng Xuân Q (sinh năm: 1977, trú tại: Tổ H, phường ĐT, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng) là người đã mua chiếc điện thoại Samsung Galaxy S6 Edge 32GB màu vàng với H, do Q không biết là H trộm cắp mà có nên không có cơ sở để xử lý.

Đối với vật chứng vụ án đã thu hồi được là: 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy S6 Edge 32GB màu vàng, 01 mũ bảo hiểm nhãn hiệu nón thể thao; 01 túi xách giả da màu nâu và 05 khung giàn giáo. Trong quá trình điều tra, xét thấy việc trả lại tài sản không làm ảnh hưởng đến việc truy tố, xét xử vụ án nên cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Bằng đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 05 ngày 19/12/2017 trao trả tài sản cho chủ sở hữu.

Đối với chiếc điện thoại Samsung Galaxy J7 Prime màu trắng, H đã đem bán tại LT, Bắc Ninh, do không biết tên và địa chỉ cụ thể nên cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Bằng không thu hồi được tài sản.

Tất cả những lần mua ma túy về sử dụng, H đều khai nhận mua với những đối tượng không rõ tên và địa chỉ ở khu vực Bến xe khách thành phố CB nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý.

Về trách nhiệm dân sự:

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy S6 Edge 32GB màu vàng, 01 mũ bảo hiểm nhãn hiệu nón thể thao màu hồng; 01 túi xách giả da màu nâu. Quá trình điều tra đã thu hồi được tài sản và xác định chủ sở hữu là Đỗ Thị M (sinh năm 1964, nơi đăng ký HKTT: Tổ HL, phường HG, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng). Cơ quan Công an đã tiến hành trả lại tài sản trên cho chủ sở hữu theo biên bản trả lại tài sản ngày 21/12/2017. Xét thấy việc trả lại tài sản cho chủ sở hữu của cơ quan Công an là đúng theo quy định tại Điều 41 Bộ luật hình sự và Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự

Còn đối với chiếc điện thoại Samsung Galaxy J7 Prime màu trắng, Hải đã đem bán tại LT, Bắc Ninh, do không biết tên và địa chỉ cụ thể nên cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Bằng không thu hồi được tài sản và số tiền  200.000đ H đã chi tiêu cá nhân hết. Tại phiên tòa người bị hại Đỗ Thị M vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt, đã nhận lại tài sản (01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy S6 Edge 32GB màu vàng, 01 mũ bảo hiểm nhãn hiệu nón thể thao màu hồng; 01 túi xách giả da màu nâu). Còn chiếc điện thoại Samsung Galaxy J7 Prime màu trắng và số tiền mặt 200.000đ không thu hồi được, bà M không yêu cầu bị cáo bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết về bồi thường.

- Đối với tài sản là 05 khung giàn giáo. Quá trình điều tra đã thu hồi được tài sản và xác định chủ sở hữu là Nguyễn Văn B (sinh năm: 1971; HKTT: tổ B, phường TG, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng). Cơ quan Công an đã tiến hành trả lại tài sản trên cho chủ sở hữu theo biên bản trả lại tài sản ngày 21/12/2017. Xét thấy việc trả lại tài sản cho chủ sở hữu của cơ quan Công an là đúng theo quy định tại điều 41 Bộ luật hình sự và điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa người bị hại Nguyễn Văn B vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt, đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết về bồi thường.

- Đối với Hoàng Xuân Q là người đã mua lại chiếc điện thoại là người đã mua chiếc điện thoại Samsung Galaxy S6 Edge 32GB màu vàng với H, khi mua điện thoại Q không biết đấy là tài sản do H trộm cắp mà có. Tại phiên toà, Hoàng Xuân Q vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt), không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 1.000.000 đ (một triệu đồng). Tuy nhiên, đây là khoản tiền do bị cáo bán điện thoại Samsung Galaxy S6 Edge trộm cắp được mà có, số tiền này bị cáo đã dùng để mua ma túy về sử dụng hết nên cần buộc bị cáo nộp lại số tiền 1.000.000 đ (một triệu đồng) để sung công quỹ Nhà nước.

- Đối với số tài sản: 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy J7 Prime màu trắng, bị cáo đem bán cho cửa hàng điện thoại (không biết tên) tại huyện LT, tỉnh Bắc Ninh được 1.600.000đ (một triệu sáu trăm nghìn đồng) và số tiền mặt 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) bị cáo lấy trộm của bà M. Do không xác định được người mua chiếc điện thoại là ai và số tiền bán chiếc điện thoại cũng như số tiền mặt lấy trộm được của bà M bị cáo đã dùng để mua ma túy về sử dụng và tiêu xài cá nhân hết. Bà M không yêu cầu bồi thường nhưng đây là tiền do bị cáo bán chiếc điện thoại và tiền mặt bị cáo lấy trộm được của bà M mà có nên cần buộc bị cáo nộp lại số tiền 1.800.000đ (một triệu tám trăm nghìn đồng) để sung công quỹ nhà nước.

Về án phí: Bị cáo Phạm Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên  ố: Bị cáo Phạm Văn H phạm tội "Trộm cắp tài sản".

- Áp dụng: khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33; Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) đối với bị cáo Phạm Văn H.

2. Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn H 12 (mười hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 07/12/2017.

- Tịch thu số tiền 2.800.000đ (hai triệu tám trăm nghìn đồng) do phạm tội mà có đối với bị cáo Phạm Văn H để sung công quỹ Nhà nước.

3. Về trách nhiệm dân sự:

- Người bị hại Đỗ Thị M đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về bồi thường.

- Người bị hại Nguyễn Văn B đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về bồi thường.

- Người có quyền lợi liên quan Hoàng Xuân Q không yêu cầu bị cáo bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

Bị cáo Phạm Văn H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

5. Về quyền khán   cáo: Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Người bị hại vắng mặt (có lý do) có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

- Người có quyền lợi liên quan vắng mặt tại phiên tòa (có lý do) có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản ản hoặc được tống đạt hợp lệ.


68
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về