Bản án 08/2018/HSST ngày 08/03/2018 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C.H, TỈNH C.H

BẢN ÁN 08/2018/HSST NGÀY 08/03/2018 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 08 tháng 03 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C.H, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2018/HSST ngày 30 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2018/HSST-QĐ ngày 23 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo:

Ma Văn S, tên gọi khác: Không, sinh ngày 05/7/1974; Nơi ĐKHKTT, chỗ ở: thôn N.L, xã T.P, huyện C, tỉnh T.Q; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 7/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; con ông Ma Văn Th, sinh năm 1944 và bà Ma Thị Nh, sinh năm 1944; vợ: Nguyễn Thuỳ L, sinh năm 1985; con: có 02 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2012.

Tiền sự: Không.

Tiền án: Ngày 10/6/2015 Tòa án nhân dân tỉnh T.Q xử phạt 06 tháng tù vềtội “Đánh  bạc”. (chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/01/2016, chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 04/5/2016, chưa được xóa án tích).

Nhân thân: Ngày 19/4/2014 Công an huyện C.H ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/12/2017, Hi. đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh T.Q. (Có mặt tại phiên toà)

- NgƯời bào chữa cho bị cáo: Bà Vũ Thanh T - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C.H. (có mặt)

- NgƯời làm chứng:

1. Lâm Văn H (tên gọi khác: Lâm Văn B), sinh năm 1955; trú tại: Tổ 14, thị trấn Y. B, huyện Y.B, tỉnh Y.B. (vắng mặt)

2. Bàn Văn L.Ch, sinh năm 1989; trú tại: Thôn K.L, xã L.P, huyện C.H, tỉnh T.Q. (vắng mặt)

3. Thương Văn Páo, sinh năm 1972; trú tại: Thôn B.T, xã T.Ph, huyện C.H, tỉnh T.Q. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 23/01/2017, Ma Văn S trú tại thôn N.L, xã Tr.P, huyện Ch.H, tỉnh T.Q, rủ Lâm Văn H trú tại tổ 14, thị trấn Y.B, huyện Y.B, tỉnh Y.B; Bàn Văn B, trú tại thôn Kh.L, xã Tr.P; Đinh Văn B2 trú tại thôn N.L, xã Tr.P đi lên khu vực đồi LCh thuộc thôn N.l, xã Tr.P để đánh bạc trái phép với hình thức xóc đĩa, tính chẵn lẻ sát phạt nhau bằng tiền, mọi người đồng ý. Trên đường đi, anh L.Ch rủ Thương Văn P trú tại thôn B.T, xã Tr.P, còn anh Hi. gọi điện thoại rủ Bàn Văn L. trú tại thôn B.C, xã Tr.P để đi đánh bạc cùng. Lên đến nơi, B. vào lán sấy sắn ở gần đó cắt quân bạc, lấy bát đĩa sau đó tất cả các đối tượng nêu trên ngồi xuống quây tròn đánh bạc. L.Ch là người xóc cái, ngoài ra Hi., L mỗi người cầm 01 bảng vị đã chuẩn bị từ trước để mọi người đặt tiền cược. Khoảng 15 phút sau có thêm Nguyễn Văn Ng trú tại thôn N.l, xã Tr.P, Ma Văn V trú tại thôn N.l, xã Tr.P đến tham gia đánh bạc cùng. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày Công an xã Tr.P, huyện C.H phát Hi. bắt quả tang, các đối tượng bỏ chạy chỉ giữ được Lâm Văn H. Tang vật thu giữ gồm 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân bạc bằng tre, 02 bảng vị, tiền mặt 1.250.000đ.

Trong quá trình điều tra, truy tố bị can MaVăn S không thừa nhận vai trò khởi xướng, rủ rê mọi người đánh bạc như nội dung vụ án đã nêu trên. Bị can S khai, trong canh bạc ngày 23/01/2017 tại khu vực đồi L.Ch thuộc thôn N.L, xã Tr.P bị can là người đến sau cùng, khi đến nơi đã thấy mọi người đánh bạc, bị can được tham gia đánh bạc với số tiền 10.000đ. Tuy nhiên căn cứ vào các lời khai, các bản tự khai của Bàn Văn B(BL 119-122; 123-126; 127-130; 131-134; 135; 136; 137; 138; 139; 140), Lâm Văn H(BL 153-145; 155-158; 159-162; 163- 166; 167-170; 171-174), Đinh Văn B( BL 183-184; 185-188; 189-192; 193-196; 197-198; 199-200; 201; 202; 203; 204; 205) và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội của bị can Ma Văn S phù hợp với nội dung vụ án nêu trên.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung cáo trạng đã truy tố, không phát sinh tình tiết mới.

Bản Cáo trạng số 07/CT - VKSCH-TQ ngày 29/01/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện C.H đã truy tố Ma Văn S về tội: "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ Luật Hình sự 1999. Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện C.H vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 248 BLHS 1999; khoản 1 Điều 38; khoản 3 Điều 7; điểm s khoản 1, khoản 2 (dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn) Điều 51 Bộ luật Hình sự 2017; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 06 năm 2017 xử phạt bị cáo Ma Văn S từ từ 04 tháng đến 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ.

- Về hình phạt bổ sung: Gia đình bị cáo thuộc diện cận nghèo, là dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên đề nghị không áp dụng.

- Về xử lý vật chứng áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu sung quỹ nhà nước 1.310.000 đồng là tài sản  sử dụng vào việc phạm tội; Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân bạc bằng tre đen trắng, 02 bảng vị.

- Ngoài ra đề nghị HĐXX buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Trợ giúp viên bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 248 BLHS 1999; điểm s khoản 1, khoản 2 (bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn) Điều 51 BLHS 2015 xử phạt bị cáo Ma Văn S ở mức khởi điểm của khung hình phạt.

Kết thúc phần tranh luận bị cáo nói lời sau cùng: Nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện C.H xét thấy:

(1)Xét về hành vi, quyết định tố tụng: Điều tra viên và Cơ quan điều tra Công an huyện; Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân huyện, trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, thủ tục Thu giữ, xử lý vật chứng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi đánh bạc của Lâm Văn H, Bàn Văn B, Đinh Văn B2, Thương Văn P, Nguyễn Văn Ngh, Ma Văn V, Bàn Văn L đã bị Cơ quan Công an huyện C.H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực Hi. đều hợp pháp

(2) Về áp dụng pháp luật: Tại Cáo trạng số 07/CT-VKSCH-TQ ngày 29/01/2018, Viện Kiểm sát nhân dân huyện C.H truy tố bị can Ma Văn S về tội Đánh bạc, tội phạm và hình phạt được quy định khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự 1999. Khi so sánh pháp luật, do Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 có mức hình phạt nhẹ nhất cao hơn và mức phạt tiền cao hơn so với khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự 1999, nên bị cáo bị truy tố và xét xử theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự 1999 là đúng pháp luật.

Quá trình điều tra bị cáo Ma Văn S đã khai nhận có thực hiện hành vi tham gia đánh bạc của mình phù hợp với lời khai của những người khác cùng tham gia đánh bạc khi đã có tiền án về tội đánh bạc là đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm.

Quá trình điều tra bị cáo không thừa nhận việc khởi xướng, rủ rê người khác, nhưng đã được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ khác như lời khai của người cùng tham gia đánh bạc BànVăn B( BL119-122; 123-126; 127-130;131-134; 135; 136;137; 138; 139; 140) Lâm Văn H BL 153-145; 155-158; 159-162; 163-166; 167-170; 171-174), Đinh Văn B2 ( BL 183-184; 185-188;189-192; 193-196; 197-198; 199-200; 201; 202; 203; 204; 205) và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận hành vi rủ Đinh Văn B2 tham gia đánh bạc, đồng thời theo các chứng cứ trên thể hiện Ma văn S có thông tin đến các người khác sự việc đánh bạc, chưa có căn cứ xác định Ma Văn S là người  khởi xướng nhằm khởi tạo vụ đánh bạc, nên không quy kết bị cáo về vai trò chủ mưu, khởi xướng trong vụ án.

(3) Về tình tiết định khung hình phạt:

Hành vi của bị cáo Ma Văn S không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự.

(4) Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với bị cáo:

Bị cáo có tiền án về tội “Đánh bạc” đã lấy làm tình tiết định tội nên không áp dụng làm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng không được coi là lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng.

Quá trình điều tra bị cáo tuy chưa thành khẩn khai nhận việc rủ Đinh Văn B2 và thông tin đến người khác về việc đánh bạc, nhưng đã thành khẩn khai báo hành vi tham gia đánh bạc của bản thân. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Ma Văn S đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi đánh bạc, rủ Đinh Văn B2, và thông tin đến người khác về việc đánh bạc. Ngoài ra bản thân bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên nhận thức về pháp luật còn hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại đoạn 1 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS 2015 cần áp dụng cho bị cáo.

Trong vụ án này, bị cáo không có các tình tiết tăng nặng, tuy số tiền bị cáo dùng vào việc đánh bạc không lớn nhưng nhân thân bị cáo đã có tiền án mà lại phạm tội, nên không áp dụng loại hình phạt tiền, mà phải áp dụng mức án tù khởi điểm của khung hình phạt mới tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân bị cáo.

(5) Vật chứng liên quan đến vụ án: 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân bạc bằng tre đen trắng, 02 bảng vị là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy; đối với số tiền 1.310.000 đồng (trong đó có 1.250.000đ  thu giữ trên chiếu bạc, 60.000đ do Nguyễn Văn Ng, Trương Văn P, Ma Văn V giao nộp sau khi sự việc đánh bạc bị phát Hi.) là tài sản sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Về hình phạt bổ sung, do gia đình bị cáo thuộc diện cận nghèo, là dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên không áp dụng hình phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 248 BLHS 1999.

Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 248 BLHS 1999, Khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điều 38; đoạn 1 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS 2015; Nghị quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 06 năm 2017.

- Tuyên bố bị cáo Ma Văn S phạm tội “Đánh bạc”.

- Xử phạt: Bị cáo Ma Văn S 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (11/12/2017).

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân bạc bằng tre đen trắng, 02 bảng Vị (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/01/2018 giữa cơ quan điều tra công an huyện Ch.H và Chi cục Thi hành ándân sự  huyện C.H).

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 1.310.000 đồng, hiện đang tạm gửi tại tài khoản số 3591.0.1065091.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.H theo ủy nhiệm chi chuyển khoản, chuyển tiền  điện tử lập ngày 30/01/2017.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH khóa 14

Bị cáo Ma Văn S phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Áp dụng điểm m khoản 2 Điều 61; Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (08/3/2018).


64
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về