Bản án 08/2018/HNGĐ-ST ngày 16/01/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 08/2018/ HNGĐ-ST NGÀY 16/01/2018 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 16 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự đã thụ lý số: 309/2017/TLST-HNGĐ ngày 09/10/2017 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo Quyết định đưa vụ  án  ra xét  xử  số:  417/2017/QĐXXST-HNGĐ  ngày 25/12/2017,  giữa  các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh 1991 (có mặt)

Địa chỉ: ấp T, thị trấn O, huyện T, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn:  Anh Nguyễn T, sinh 1989 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp T, thị trấn O, huyện T, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày: Chị với anh Nguyễn T chung sống với nhau từ năm 2009, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc có một con chung tên Nguyễn Thị Diễm M, sinh ngày 15/6/2011. Nhưng đến năm 2013 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, có nhiều bất đồng về quan điểm sống nguyên nhân do tính tình không phù hợp. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 6/2017 cho đến nay.

Nay chị xin được ly hôn với anh T. Về quan hệ con chung chị yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản và nợ chung không có chị không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn T: Kể từ khi thụ lý vụ án Tòa án đã thông báo và tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng anh T đã vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của chị N

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Bị đơn anh Nguyễn T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử thấy, có căn cứ áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, xét xử vắng mặt anh T.

[2] Sau khi quen biết, tìm hiểu và có tình cảm với nhau, năm 2009 chị Nguyễn Thị N với anh Nguyễn T tự nguyện chung sống với nhau được Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số: 199 ngày 05/10/2009. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[3] Xét yêu cầu của chị Nguyễn Thị N, thấy: Vợ chồng chị N và anh T chung sống với nhau, có thời gian hạnh phúc và đã có con chung; tuy nhiên, chỉ trong thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng nên đã sống ly thân từ thánh 6/2017 cho đến nay; kể từ khi sống ly thân đến nay chị N với anh T không gặp nhau, không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ cho nhau. Ngoài lời trình bày của chị N, điều này còn được thể hiện, kể từ khi thụ lý vụ án Tòa án tiến hành thông báo hòa giải nhằm mục đích động viên, hàn gắn nhưng anh T đã vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện nguyện vọng muốn được hàn gắn quan hệ vợ chồng với chị N để xây dựng hạnh phúc gia đình và chăm sóc, giáo dục con chung. Căn cứ Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy, tình nghĩa vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị N với anh Nguyễn T không còn, tình trạng hôn nhân đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, có đủ căn cứ để áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị N.

[4] Xét về quan hệ con chung, thấy: Cháu Nguyễn Thị Diễm M, sinh ngày 15/6/2011 được chị Nguyễn Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục từ khi chị N và anh T ly thân cho đến nay, để ổn định cuộc sống và đảm bảo sự phát triển bình thường của cháu M. Hội đồng xét xử xét thấy, cần thiết áp dụng Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, giao cháu Nguyễn Thị Diễm M cho chị N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

[5] Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, chị Nguyễn Thị N là nguyên đơn nên phải chịu án phí theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81 và Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị N.

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị N ly hôn với anh Nguyễn T.

Về quan hệ con chung:

- Giao con chung tên Nguyễn Thị Diễm M, sinh ngày 15/6/2011 (hiện đang sống với chị Nguyễn Thị N) cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp, trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

- Anh Nguyễn T có nghĩa vụ tôn trọng quyền của cháu M được sống chung với chị N và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, chị N không được cản trở.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị N chịu 300.000 đồng, được trừ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000562 ngày 09/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn.

Chị Nguyễn Thị N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tuyên án, anh Nguyễn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân thị trấn Óc Eo, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang để yêu cầu xét xử phúc thẩm.


54
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 08/2018/HNGĐ-ST ngày 16/01/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:08/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thoại Sơn - An Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 16/01/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về