Bản án 08/2018/HNGĐ-ST ngày 12/04/2018 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

BẢN ÁN 08/2018/HNGĐ-ST NGÀY 12/04/2018 VỀ XIN LY HÔN 

Trong ngày 12 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 270/2017/TLST- HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2017 về việc: “Xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 13/3/2018 giữa các đương sự:

1.  Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Thu L – Sinh năm: 1996;

Nơi cư trú: thôn P, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

2.  Bị đơn: Anh Phạm Đức N – Sinh năm: 1993;

Nơi cư trú: thôn P, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam Xuân Phước, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Đỗ Thị Thu L trình bày: Chị và anh Phạm Đức N tự nguyện tìm hiểu, tổ chức đám cưới theo phong tục, tập quán tại địa phương, đăng ký kết hôn ngày 26/01/2015 tại Uỷ ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Chị và anh N chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do  anh N không lo làm ăn, chơi game và tụ tập nhậu với bạn bè, chị L can ngăn, động viên anh N làm ăn thì anh N chửi mắng, trong lúc nhậu say anh N nhiều lần đánh đập chị L. Sự việc mâu thuẫn được gia đình hai bên và chính quyền địa phương nhiều lần khuyên giải, can thiệp nhưng không hòa giải được mâu thuẫn vì anh N vẫn không thay đổi. Ngày 30/5/2017, anh N bị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử tuyên phạt 08 năm tù về tội “Giết người”. Hiện nay anh N đang chấp hành án tại trại giam X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Nay chị L nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được và không thể tiếp tục chung sống với anh N nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn anh N để ổn định cuộc sống.

Về  con  chung:  Có  một  con  chung  tên  Phạm  Đỗ  Lin  Đ  -  sinh  ngày 21/11/2015, hiện nay đang ở với chị L. Khi ly hôn, chị L có nguyện vọng tiếp tục nuôi con chung Lin Đ, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung.

Tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Phạm Đức N: Từ khi Tòa án thụ lý giải quyết đơn yêu cầu ly hôn của chị L, anh N đang chấp hành án tại trại giam X nên không đến Tòa để Tòa án tiến hành làm việc được. Anh N đã viết bản tự khai, đơn trình bày ý kiến có xác nhận của Trại giam X gửi đến Tòa. Nội dung bản tự khai và đơn trình bày ý kiến thống nhất khai như chị L, thống nhất ly hôn chị L, giao con chung Phạm Đỗ Lin Đ - sinh ngày 21/11/2015 cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng, về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đồng thời, anh N trình bày rõ việc anh N đang chấp hành án tại Trại giam X nên không đến Tòa được và xin vắng mặt các buổi làm việc, các phiên hòa giải và xin vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Toà án nhân dân huyện Đông Hòa không tiến hành hoà giải được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hòa tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và việc giải quyết vụ án:

+Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã tuân theo đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định, đảm bảo cho đương sự thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ. Các đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

+ Việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị L và anh N. Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự: Giao cho chị L tiếp tục nuôi con chung Phạm Đỗ Lin Đ - sinh ngày 21/11/2015, anh N không phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xét. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
 
[1]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Đỗ Thị Thu L và anh Phạm Đức N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng chị L, anh N vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Toà án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị L và  anh N tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên vào năm 2015. Đây là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống, chị L và  anh N xảy ra mâu thuẫn.   Nguyên nhân mâu thuẫn do anh N không lo làm ăn, mà chơi game, ăn nhậu, nhiều lần trong lúc say nên không kiểm soát bản thân dẫn đến có hành vi bạo lực với chị L. Dù đã được gia đình hai bên và chính quyền địa phương hòa giải nhưng mâu thuẫn của chị L, anh N vẫn xảy ra và kéo dài, đời sống hôn nhân không hạnh phúc. Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết đơn yêu cầu ly hôn của chị L, anh N đang chấp hành án tại trại giam X nên không đến Tòa làm việc được và có đơn trình bày xin vắng mặt các buổi làm việc, các phiên hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa. Anh N có bản tự khai thống nhất ly hôn chị L. Do đó, không thể duy trì quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh N mà cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L về việc xin ly hôn anh N, để các bên ổn định cuộc sống.

[3]. Về con chung: Chị L và  anh N có một con chung tên Phạm Đỗ Lin Đ - sinh ngày 21/11/2015. Từ khi anh N đi chấp hành án, chị L là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lin Đ. Nay chị L xin tiếp tục nuôi dưỡng cháu Lin Đ. Chị L không yêu cầu  anh N cấp dưỡng nuôi con chung. Anh N có bản tự khai thống nhất giao con chung Phạm Đỗ Lin Đ cho chị L nuôi dưỡng. Xét thấy hiện nay anh N đang chấp hành án và để ổn định cuộc sống của cháu Lin Đ nên tiếp tục giao cháu Lin Đ cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng.

[4]. Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết nên Tòa không xét.

[5]. Về án phí: Chị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về xin ly hôn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

2. Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị Thu L.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chị Đỗ Thị Thu L được ly hôn anh Phạm Đức N.

2.  Về  con  chung:  Giao  con  chung  tên  Phạm Đỗ  Lin  Đ  -  sinh  ngày 21/11/2015 cho chị Đỗ Thị Thu L tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Phạm Đức N không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh Phạm Đức N có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 236 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí tòa án, chị Đỗ Thị Thu L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu xin ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí mà chị L đã nộp tại phiếu thu số 0004082 ngày 25/12/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên. Như vậy, chị Đỗ Thị Thu L đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


145
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 08/2018/HNGĐ-ST ngày 12/04/2018 về xin ly hôn

      Số hiệu:08/2018/HNGĐ-ST
      Cấp xét xử:Sơ thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đông Hòa - Phú Yên
      Lĩnh vực:Dân sự
      Ngày ban hành:12/04/2018
      Là nguồn của án lệ
        Bản án/Quyết định sơ thẩm
          Án lệ được căn cứ
             
            Bản án/Quyết định phúc thẩm
              Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về