Bản án 08/2018/HNGĐ-PT ngày 13/04/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 08/2018/HNGĐ-PT NGÀY 13/04/2018VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 13/4/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý 49/2017/TLPT-HNGĐ ngày 14/12/2017 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

Do bản án Hôn nhân và gia đình số 169/2017/HNGĐ-ST ngày 28/9/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 56/2018/QĐ-PT ngày 15/3/2018  và Quyết định hoãn số: 07/2018/QĐ-PT ngày 29/3/2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Trần Tấn T, sinh năm 1971;

Địa chỉ: Lô X, hẻm XX, đường H, phường L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt).

2. Bị đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1971;

Địa chỉ: Đường O, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (có mặt).

3. Người kháng cáo: Bà Trần Thị H là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo án sơ thẩm, nguyên đơn ông Trần Tấn T trình bày:

Ông và bà H hai người kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 15/4/2004, tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Sau khi kết hôn về vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Lý do hai người tính tình không hợp, quan điểm sống thì bất đồng, thường xuyên cãi nhau nên ông và bà Trần Thị H đã ly thân từ năm 2015 đến nay. Ông nhận thấy hai người sống với nhau không có tình cảm nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

Về con chung: Có 02 con, Trần Tấn K - sinh ngày: 01/01/1998 và Trần Gia TH - sinh ngày: 09/11/1999. Hiện tại Trần Tấn K đã đủ 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; Đối với con Trần Gia TH đang ở với bà Trần Thị H nên ông có nguyện vọng để bà H nuôi, ông đồng ý cấp dưỡng nuôi con khi bà H có yêu cầu.

Về tài sản chung: Hai bên có thể thỏa thuận được với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn bà Trần Thị H trình bày:

Bà không đồng ý với trình bày của ông T, bà xác định quan hệ hôn nhân giữa bà và ông Trần Tấn T vẫn còn hạnh phúc, hai người không có mâu thuẫn gì, việc ông T thường xuyên vắng nhà là do ông làm nghề lái xe và ông có mối quan hệ với người phụ nữ khác, nhưng ông vẫn thường xuyên về nhà với vợ con chứ không phải vợ chồng sống ly thân. Nay ông T làm đơn ly hôn bà không đồng ý, bởi vì ông T vẫn còn thương vợ và các con.

Về con chung: Có 02 con, Trần Tấn K - sinh ngày: 01/01/1998 và Trần Gia TH - sinh ngày: 09/11/1999.

Về tài sản chung: Không có.

Tại bản án Hôn nhân và gia đình số: 169/2017/HNGĐ-ST ngày 28/9/2017, Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột quyết định:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; khoản 1, khoản 3 Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn ông Trần Tấn T, ông Trần Tấn T được ly hôn với bà Trần Thị H.

Về con chung: Giao cho bà Trần Thị H trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc cháu Trần Gia TH - sinh ngày 09/11/1999 đến tuổi trưởng thành. Ông Trần Tấn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Ông Trần Tấn T được quyền thăm nom, chăm sóc con chung Tách yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung bằng một vụ án Hôn nhân và gia đình khác khi bà Trần Thị H có đơn yêu cầu.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí tuyên quyền kháng cáo của các đương sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 23/10/2017 bị đơn bà Trần Thị H có đơn kháng cáo toàn bộ bản án số 169/2017/HNGĐ-ST ngày 28/9/2017 Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk với nội dung đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử không cho ông T được ly hôn với bà.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Trần Tấn T vắng mặt; bị đơn bà Trần Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và mong muốn vợ chồng về đoàn tụ để nuôi dạy các con.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa ông Trần Tấn T và bà Trần Thị H mâu thuẫn chưa đến mức trầm trọng, bà H không đồng ý ly hôn, nguyện vọng của các con mong muốn gia đình đoàn tụ. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị H – sửa bản án sơ thẩm số 169/2017/HNGĐ-ST ngày 28/9/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn trong hạn luật định và đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, nên vụ án được giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung: Ông Trần Tấn T và bà Trần Thị H hai người kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 15/4/2004, tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Đắk Lắk. Nay ông T làm đơn xin ly hôn và xác định hôn nhân giữa hai người không hạnh phúc là do tính tình không hợp, quan điểm sống bất đồng, cuộc sống hôn nhân không thể duy trì được và vợ chồng ông đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay.

Xét thấy, hôn nhân giữa ông Trần Tấn T và bà Trần Thị H là hôn nhân hợp pháp, đảm bảo các điều kiện về kết hôn theo luật định. Quá trình chung sống hai người có phát sinh mâu thuẫn nhưng chưa đến mức trầm trọng, khả năng hàn gắn hạnh phúc để nuôi dạy các con vẫn còn. Bởi lẽ, khi giải quyết vụ án mọi người bên phía ông T, hàng xóm và đoàn thể nơi ông T bà H sinh sống đều xác nhận hôn nhân của ông T, bà H bình thường, mâu thuẫn chưa trầm trọng và đề nghị Tòa án giải quyết không cho ông T ly hôn với bà H, nhưng cấp sơ thẩm không tiến hành xác minh, hòa giải, lấy lời khai của các con ông T và bà H về tình trạng hôn nhân mà giải quyết cho ông T ly hôn với bà H là thiếu sót. Vì vậy, kháng cáo của bà Trần Thị H là có cơ sở, cần sửa bản án sơ thẩm số:169/2017/HNGĐ-ST ngày 28/9/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, theo hướng bác đơn khởi kiện ly hôn của ông Trần Tấn T với bà Trần Thị H là phù hợp.

[3] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của bà Trần Thị H được chấp nhận nên bà H không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 148, khoản 2 Điều 308, Điều 309, Điều 313 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị H - Sửa bản án sơ thẩm số: 169/2017/HNGĐ-ST ngày 28/9/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột

[2] Bác đơn khởi kiện ly hôn của ông Trần Tấn T.

[3] Án phí sơ thẩm: Ông Trần Tấn T phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2016/0000334 ngày 03/5/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

[4] Án phí phúc thẩm: Bà Trần Thị H không phải chịu án phí phúc thẩm, hoàn trả lại bà H số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp tạm ứng án phí, theo biên lai số AA/2017/0000599 ngày 08/11/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

[5] Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


138
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 08/2018/HNGĐ-PT ngày 13/04/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:08/2018/HNGĐ-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Đăk Lăk
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:13/04/2018
Là nguồn của án lệ
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về