Bản án 07/2021/HNGĐ-ST ngày 04/03/2021 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH NINH BÌNH

BẢN ÁN 07/2021/HNGĐ-ST NGÀY 04/03/2021 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 04 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình xét xử công khai vụ án thụ lý số 185/2020/TLST - HNGĐ ngày 09 tháng 11 năm 2020 về “Tranh chấp ly hôn ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 01 năm 2021giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị M, sinh năm 1969; ĐKHKTT và trú tại: xóm T, xã M, huyện M, tỉnh Nam Định ( vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Anh Phan Văn C ( Phan Minh C), sinh năm 1965; ĐKHKTT và trú tại: xóm A, xã K, huyện K, tỉnh Ninh Bình. ( vắng mặt lần 2 không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn Chị Trần Thị M trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án trình bày: Chị và Anh Phan Văn C ( Phan Minh C) kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu có đăng ký kết hôn vào năm 1994 tại UBND xã M, huyện B, tỉnh Nam Hà. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận một thời gian ngắn sau đó phát sinh mâu thuẫn.

Theo chị M nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, lối sống, anh C thường xuyên rượu chè, không tu chí làm ăn, không quan tâm chăm sóc vợ con. Mặc dù chị đã nhiều lần khuyên giải nhưng anh C không thay đổi. Vì không thể chịu đựng được nên chị đã về quê tại xóm T, xã M, huyện M, tỉnh Nam Định để sinh sống, ly thân từ cuối năm 1994 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống không hạnh phúc, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh C để chị ổn định cuộc sống.

Về con chung: Chị xác định vợ chồng có một con chung là Trần Thị Thanh H, sinh năm 1994, hiện đã trưởng thành tự lập, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết Về tài sản: Chị xác định vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu giải quyết

Bị đơn anh Phan Văn C ( Phan Minh C) trong các biên bản sự việc ngày 13/11/2020, 30/11/2020, 05/01/2021 thể hiện:. Anh C có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm A, xã K, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Sau khi kết hôn với chị Trần Thị M, anh chị về chung sống một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn và đã sống ly thân từ cuối năm 1994. Từ đó đến nay không quay lại chung sống lần nào. Nay chị M làm đơn yêu cầu ly hôn với anh, anh C không có quan điểm về việc này mà cố tình trốn tránh, che giấu địa chỉ không tham gia giải quyết vụ án tại Tòa án mặc dù đã nhận được các thông báo.

Về con chung và tài sản chung: Anh không có quan điểm về vấn đề này Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K: Nguyên đơn, và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của BLTTDS. Bị đơn chưa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình ; Điều 147, 192, 228 BLTTDS; Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14: Xử ly hôn giữa chị Trần Thị M và anh Phan Văn C ( Phan Minh C); chị M phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Chị Trần Thị M khởi kiện yêu cầu giải quyết việc ly hôn với anh Phan Văn C ( Phan Minh C), cư trú tại xóm A, xã K, huyện K, tỉnh Ninh Bình; căn cứ quy định tại điều 28 và 39 BLTTDS vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện K. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định Đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt lần 2 không có lý do, căn cứ Khoản 3 Điều 228, xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị M và anh Phan Văn C ( Phan Minh C) kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn năm 1994 tại UBND xã M, huyện B, tỉnh Nam Hà ( nay là xóm T, xã M, huyện M, tỉnh Nam Định) là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật HNGĐ; sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận một thời gian thì mới phát sinh mâu thuẫn.

Về phía Chị M cho rằng trong quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Theo chị M nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, anh C thường xuyên rượu chè, không tu chí làm ăn. Chị đã nhiều lần khuyên giải nhưng anh C không thay đổi. Vì không thể chịu đựng được nữa nên chị M đã bỏ về nhà sinh sống ở nhà bố mẹ đẻ tại xã M, huyện , tỉnh Nam Định và ly thân với anh C từ năm 1994 đến nay, không ai quan tâm đến ai.

Anh C không có văn bản trình bày ý kiến cụ thể. Qua xác minh tại gia đình và địa phương: anh C đi làm ăn xa tại thôn 3, xã Q , huyện Đ, tỉnh Đăk Nông, thưởờng xuyên đi về nhưng không làm thủ tục tạm trú tại xã Q,huyện Đ và không cắt chuyển khẩu khỏi xóm A, xã K. Mặc dù đã được tống đạt, niêm yết văn bản một cách hợp lệ nhưng anh không có mặt để làm việc theo quy định. Như vậy căn cứ theo quy định tại Điểm e Khoản 1 Điều 192, anh C cố tình che giấu địa chỉ, không tham gia giải quyết vụ án tại Tòa án với chị M.

Xác minh tình trạng hôn nhân của chị M và anh C tại UBND xã K là nơi anh chị cư trú; thì chính quyền địa phương xác nhận chị M và anh C có xảy ra mâu thuẫn, chị mai đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại tỉnh Nam Định để sinh sống, không còn chung sống với anh C từ năm 1994.

Từ những căn cứ đó đã có đủ cơ sở xác định tình trạng hôn nhân của chị M, anh C hiện nay đã trầm trọng, mâu thuẫn không thể khắc phục, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể duy trì cuộc sống chung; căn cứ quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình, yêu cầu của chị M giải quyết ly hôn anh C là có căn cứ được chấp nhận.

[3] Về quan hệ con chung : Qua xác minh, chị Trần Thị M và anh Phan Văn C có 1 con chung là Trần Thị Thanh H, sinh năm 1994. Hiện chị H đã thành niên, tự lập, HĐXX không xem xét, giải quyết

[4] Về tài sản chung: Chị Trần Thị M không yêu cầu, anh Phan Văn C không có quan điểm về vấn đề này vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết

[5] Về án phí: Căn cứ quy định tại điều 147 BLTTDS và Nghị quyết 326/2016/NQUBTVQH14 buộc chị M phải nộp toàn bộ án phí ly hôn.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 51, 56 Luật HNGĐ; Điều 147, 192, 228 BLTTDS và Nghị quyết 326/2016/NQUBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1/ Xử ly hôn giữa Chị Trần Thị M và anh Phan Văn C ( Phan Minh C).

2/ Về án phí: Chị Trần Thị M phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA2466 ngày 09/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định. 


28
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 07/2021/HNGĐ-ST ngày 04/03/2021 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:07/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Kim Sơn - Ninh Bình
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:04/03/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về