Bản án 07/2020/HS-ST ngày 12/02/2020 về tội đánh bạc 

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N - TỈNH NINH BÌNH

BẢN ÁN 07/2020/HS-ST NGÀY 12/02/2020 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC  

Ngày 12 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở TAND huyện N, tỉnh Ninh Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 08/2020/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2020/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2020 đối với các bị cáo:

1. Trịnh Văn T, sinh năm 1983 tại xã Y, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Tên gọi khác: Không ; Nơi cư trú: Thôn Y, xã Y, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Mường; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trịnh Văn T1 và bà Bùi Thị R; có vợ là Quách Thị L và có 02 con lớn sinh năm 2013 nhỏ sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/12/2019 đến ngày 30/12/2019 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn“Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

2. Đinh Quốc L, sinh năm 1978 tại xã Y, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Tên gọi khác: Không ; Nơi cư trú: Thôn Y, xã Y, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Mường; giới tính: Nam; Tôn giáo:Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đinh Văn B và bà Bùi Thị N; có vợ là Quách Thị Th và có 02 con lớn sinh năm 2003 nhỏ sinh năm 2007. Tiền án, tiền sự: Không. Về nhân thân: Tại bản án số 02/2016/HSST ngày 20/01/2016, Đinh Quốc L bị Tòa án nhân dân huyện N xử phạt 12.000.000 đồng về tội: Đánh bạc. Đến ngày 24/5/2016 Đinh Quốc L đã chấp hành xong hình phạt chính và án phí.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/12/2019, chuyển tạm giam ngày 30/12/2019, đến ngày 14/01/2020 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn:“Bảo lĩnh”. Có mặt.

3. Bùi Văn Gi, sinh năm 1966 tạị xã Y, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Tên gọi khác: Không ; Nơi cư trú: Thôn Y, xã Y, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/10; Dân tộc: Mường; giới tính: Nam; Tôn giáo:Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn L (đã chết) và bà Quách Thị N; có vợ là Bùi Thị Th và có 03 con lớn sinh năm 1989 nhỏ sinh năm 1996. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/12/2019 đến ngày 30/12/2019 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn“Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Đinh Văn S, sinh năm 1977; Trú tại: Thôn Y, xã Y, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 27/12/2019, Trịnh Văn T, Đinh Quốc L đến gia đình nhà anh Đinh Văn S sinh năm 1977 ở thôn Y, xã Y, huyện N để ăn cơm uống rượu. Sau khi ăn xong thì anh S cùng với Trịnh Văn T, Đinh Quốc Lgồi tại chiếu nhựa trải ở gian bếp nhà anh S để uống nước đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì anh Đinh Văn Si ngủ trước. Lúc này Trịnh Văn T liền lấy 01 bộ bài tú lơ khơ 36 quân ký hiệu từ A đến 9 tại gian bếp nhà anh S rủ Đinh Quốc L đánh bạc thì L đồng ý. Trước khi vào đánh bạc Trịnh Văn T, Đinh Quốc L thống nhất đánh bạc bằng hình thức “Đánh ba cây” được thua bằng tiền với mức cá cược trong mỗi ván là 50.000 đồng. Trịnh Văn T, Đinh Quốc L ngồi đánh bạc đến khoảng 22 giờ 15 phút cùng ngày thì có Bùi Văn Gi đến gia đình nhà anh Đinh Văn S chơi thấy Trịnh Văn T, Đinh Quốc L đang đánh bạc nên Bùi Văn Gi đã vào tham gia đánh bạc cùng. Trịnh Văn T, Đinh Quốc L, Bùi Văn Gi ngồi đánh bạc đến hồi 23 giờ 20 phút cùng ngày đã bị Tổ công tác Công an huyện N phối hợp với Công an xã Y phát hiện bắt quả tang. Thu giữ tại chiếu bạc tổng số tiền 10.600.000 đồng; 01 bộ bài tú lơ khơ 36 quân ký hiệu từ A đến 9 và 01 chiếu nhựa đôi.

Cơ quan điều tra đã chứng minh số tiền Trịnh Văn T, Bùi Văn Gi, Đinh Quốc L sử dụng vào mục đích đánh bạc là 10.600.000 đồng.

Về vật chứng của vụ án đã thu giữ gồm: Số tiền 10.600.000 đồng; 01 bộ bài tú lơ khơ 36 quân ký hiệu từ A đến 9 và 01 chiếu nhựa đôi. Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã ra quyết định chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện N chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình; Các bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Tại bản cáo trạng số 11/CT-VKSNQ-HS ngày 17/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ntruy tố các bị cáo Trịnh Văn T, Đinh Quốc L, Bùi Văn Gi về tội: Đánh bạc, áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Trịnh Văn T, Đinh Quốc L, Bùi Văn Gi phạm tội: “Đánh bạc”.

* Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật hình sự :

+ Đề nghị xử phạt bị cáo Đinh Quốc L từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ (bị cáo được trừ 17 ngày tạm giữ, tạm giam = 51 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Y, huyện N, tỉnh Ninh Bình nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện N, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thi hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

Khấu trừ mỗi tháng từ 05% đến 07% thu nhập của bị cáo Đinh Quốc L trong thời gian chấp hành án để sung quỹ Nhà nước.

Phạt bổ sung bị cáo Đinh Quốc L từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

* Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự :

+ Đề nghị xử phạt bị cáo Trịnh Văn T từ 25.000.000 đồng đến 27.000.000 đồng. đồng.

+ Đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Văn Gi từ 23.000.000 đồng đến 25.000.000

* Về xử lý vật chứng:

Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Dân sự:

+ Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: Số tiền 10.600.000 đồng.

+ Tịch thu tiêu hủy 36 quân bài tú lơ khơ ký hiệu từ A đến 9 và 01 chiếu nhựa đôi.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của các bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng đã thu giữ. Mặt khác được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận: Hồi 23 giờ 20 phút ngày 27/12/2019 tại gia đình anh Đinh Văn S ở thôn Y, xã Y, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Các bị cáo Trịnh Văn T, Bùi Văn Gi, Đinh Quốc Lã thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức“Đánh ba cây” được thua bằng tiền với số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 10.600.000 đồng. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự:

Điều 321. Tội đánh bạc:

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

…………………………………………

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng“.

Hành vi nêu trên của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Viện kiểm sát nhân dân huyện N vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi nêu trên của các bị cáo trực tiếp xâm phạm đến lĩnh vực trật tự công cộng được Nhà nước bảo hộ, đồng thời làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương.

Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đánh bạc bị pháp luật cấm nhưng vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo mức án thật nghiêm như vậy mới có tác dụng nâng cao hiệu quả công tác giáo dục, răn đe phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Trịnh Văn T, Bùi Văn Giều thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo Đinh Quốc Lã thành khẩn khai báo. Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về nhân thân: Bị cáo Đinh Quốc Ló nhân thân xấu: Tại bản án số 02/2016/HSST ngày 20/01/2016 Đinh Quốc Lị Tòa án nhân dân huyện Nử phạt 12.000.000 đồng về tội: Đánh bạc. Các bị cáo Bị cáo Trịnh Văn Tà Bùi Văn Giều là người có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội lần này họ luôn tôn trọng các quy tắc xã hội, chấp hành đúng chính sách, pháp luật không vi phạm điều mà pháp luật cấm, chưa bao giờ bị kết án, bị xử lý vi phạm hành chính. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng cho bị cáo Trịnh Văn T, Bùi Văn Gi. Bị cáo Đinh Quốc L được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. (Mẹ đẻ bị cáo Đinh Quốc L là bà Bùi Thị N được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất).

Trong vụ án này, hành vi phạm tội của các bị cáo mặc dù không có tính chất tổ chức, hình thức phạm tội là đồng phạm giản đơn. Nhưng trước khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần cá thể hóa trách nhiệm hình sự của từng bị cáo. Cân nhắc đến tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra, nhân thân các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo thấy: Đối với bị cáo Trịnh Văn T là người khởi xướng việc đánh bạc bằng hình thức “Ba cây” được thua bằng tiền đồng thời cũng là người chuẩn bị công cụ và thực hành tích cực. Vì vậy, bị cáo Toán phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ án này với vai trò thứ nhất.

Đi với các bị cáo Đinh Quốc L, Bùi Văn Gi giữ vai trò là người thực hành tích cực khi được Trịnh Văn T rủ đánh bạc. Do vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò thứ hai trong vụ án này. Tuy nhiên đối với bị cáo Đinh Quốc L là người có nhân thân xấu vì vậy bị cáo L phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo Gi.

Từ những nhận định trên xét thấy cần áp dụng Điều 36 BLHS xét xử bị cáo Đinh Quốc L bằng hình phạt không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để bị cáo tự cải tạo tại địa phương là đủ.

Đi với các bị cáo Trịnh Văn T, Bùi Văn Gi không nhất thiết phải áp dụng hình phạt tù mà chỉ cần áp dụng hình thức phạt tiền là hình phạt chính cũng đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm chung.

Trong vụ án này đối với anh Đinh Văn S(chủ nhà) đi ngủ không biết việc Trịnh Văn T, Bùi Văn Gi, Đinh Quốc L sử dụng gian bếp của gia đình mình làm địa điểm đánh bạc nên không phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ án này.

[3]. Về hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập:

Đi với các bị cáo Trịnh Văn T, Bùi Văn Gi do đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung.

Đi với bị cáo Đinh Quốc L cần áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung. Xét bị cáo là lao động tự do, thu nhập thấp vì vậy cần khấu trừ thu nhập với bị cáo là 5%/tháng trong thời gian chấp hành hình phạt.

[4]. Về xử lý vật chứng:

+ Đối với số tiền 10.600.000 đồng, đây là số tiền liên quan đến hành vi đánh bạc của các bị cáo cấn tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

+ Đối với 52 quân bài tú lơ khơ, 01 chiếu nhựa đôi xét không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[5]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo Trịnh Văn T, Đinh Quốc L, Bùi Văn Gi phạm tội“Đánh bạc”.

* Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo Đinh Quốc L 09(chín) tháng cải tạo không giam giữ (bị cáo được trừ đi 17 ngày bị tạm giữ, tạm giam = 51 ngày cải tạo không giam giữ). Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Y, huyện N, tỉnh Ninh Bình nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện N, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thi hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Khấu trừ mỗi tháng 05% thu nhập của bị cáo Đinh Quốc L trong thời gian chấp hành án để sung quỹ Nhà nước.

Phạt bổ sung bị cáo Đinh Quốc L 10.000.000đ (Mười triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.

*Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự:

- Xử phạt bị cáo Trịnh Văn T 23.000.000 đồng (Hai mươi ba triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

- Xử phạt bị cáo Bùi Văn Gi 22.000.000 đồng (Hai mươi hai triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 10.600.000đ (Mười triệu sáu trăm nghìn đồng).

+ Tịch thu tiêu hủy 36 quân bài tú lơ khơ ký hiệu từ A dến 9; 01 chiếu nhựa đôi.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng và ủy nhiệm chi giữa Cơ quan Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện N).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc các bị cáo Trịnh Văn T, Đinh Quốc L, Bùi Văn Gi mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Án xử công khai sơ thẩm các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.


6
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 07/2020/HS-ST ngày 12/02/2020 về tội đánh bạc 

Số hiệu:07/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nho Quan - Ninh Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 12/02/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về