Bản án 07/2020/HSST ngày 11/05/2020 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 07/2020/HSST NGÀY 11/05/2020 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Hôm nay, ngày 11 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 05/2020/TLST-HS, ngày 27 tháng 3 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2020/QĐXXST-HS, ngày 27 tháng 4 năm 2020, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn C, sinh năm 1982, tại tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Ấp K, xã T, huyện P, tỉnh C; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L (đã chết) và bà Trần Thị P; tiền án; tiền sự: không có; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10 đến ngày 13/01/2020), bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Võ Thị T, sinh năm 1981 (vắng mặt). Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện P, tỉnh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào ngày 19/12/2003, Nguyễn Văn C đã lén lút chiếm đoạt sợi dây chuyền vàng 24K trọng lượng 06 chỉ của bà Võ Thị T được định giá là 4.560.000 đồng. Tại Kết luận định giá tài sản số: 07/KL-HĐĐG ngày 13/02/2020 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự kết luận: sợi dây chuyền vàng 24K trọng lượng 06 chỉ trị giá là 4.560.000 đồng.

Tại Cáo trạng số: 08/CT-VKS, ngày 24/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân đã truy tố Nguyễn Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân đề nghị đối với bị cáo như sau: Về trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 138; các điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 04 (bốn) tháng đến 06 (sáu) tháng tù.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, yêu cầu được xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại là bà Võ Thị T đã được bồi thường với số tiền là 24.000.000 đồng đối với tài sản mà bị cáo lấy trộm nên không đề nghị xử lý về trách nhiệm dân sự, có làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Tân, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người tham gia tố tụng nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

[2]. Quá trình thu thập tài liệu chứng cứ, đánh giá chứng cứ, chứng minh là phù hợp với quy định của pháp luật trong quá trình điều tra cũng như quá trình truy tố đủ điều kiện để đưa ra xét xử đối với bị cáo.

Qua xem xét toàn bộ nội dung vụ án, cho thấy: Nguyễn Văn C thường đến nhà bà Võ Thị T chơi nên thấy bà T có đeo sợi dây chuyền trên cổ. Do nợ tiền số đề nên C nảy sinh ý định lấy sợi dây chuyền này để bán lấy tiền trả nợ. Chiều ngày 19/12/2003, C chuẩn bị 01 lưỡi lam đến khoảng 21 giờ cùng ngày C đi đến và đột nhập vào nhà bà T bằng cửa sau đến chỗ bà T đang ngủ dùng lưỡi lam mang theo rạch mùng dài khoảng 30cm, dùng tay phải sờ vào sợi dây chuyền vàng của bà T định tìm móc mở nhưng không tìm gặp nên dùng hai tay bứt đứt, dùng tay phải rút sợi dây chuyền ra khỏi cổ của bà T và cầm sợi dây chuyền bỏ chạy ra cửa sau. Bà T thức giấc truy hô, C bỏ sợi dây chuyền vào túi áo lội qua sông ném bỏ lưỡi lam xuống sông và chạy về gần nhà cất giấu sợi dây chuyền rồi đi ngủ. Đến sáng ngày 20/12/2003, C lấy sợi dây chuyền tháo thành 02 đoạn và đem đến Tiệm vàng N thuộc ấp C, xã T, huyện C (nay là P), tỉnh C bán được số tiền khoảng 3.800.000 đồng và lấy tiền trả nợ mua số đề hết 3.500.000 đồng, số còn lại C tiếp tục mua số đề cho đến hết.

[3]. Xét về hành vi: Bị cáo đã xâm hại quyền sở hữu của người khác về tài sản, xâm hại đến trật tự công cộng. Hành vi này là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình chính trị của địa phương, gây tâm lý hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì nhu cầu sử dụng cá nhân mà không cần lao động, do tư lợi nên bị cáo đã lén lút lấy trộm tài sản của bà Võ Thị T. Bị cáo một mình thực hiện hành vi phạm tội, chuẩn bị lưỡi lam làm công cụ để thực hiện hành vi phạm tội.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và nội dung vụ án. Phù hợp lời khai nhận, tờ tự nhận của bị cáo và lời trình bày của bị hại, người tham gia tố tụng khác như người làm chứng, người mua vàng khi bị cáo bán. Đồng thời phù hợp kết quả khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra, biên bản nhận dạng vật tương tự như vật chứng cũng đã ghi nhận lại đúng vị trí mà bị cáo trình bày. Vì vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn C đã thực hiện vào năm 2003 do đó đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Qua phân tích, chứng tỏ lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát về hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật nên có cơ sở để chấp nhận.

[4]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Cụ thể: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại; bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo; bị cáo có ông nội là Liệt sĩ đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo còn gây khó khăn cho hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng trong thời gian dài từ 2003 đến năm 2020. Mặc dù có nhiều tình tiết giảm nhẹ tuy nhiên để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật cần thiết phải xử lý nghiêm bằng hình phạt tù mới đủ sức răn đe và phòng ngừa tội phạm.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Đối với tài sản mà bị cáo lấy trộm, bị hại là bà Võ Thị T đã được bị cáo bồi thường số tiền 24.000.000 đồng, không đề nghị xử lý về trách nhiệm dân sự nên không đặt ra xem xét là phù hợp.

[6]. Trong vụ án còn thể hiện hành vi đánh bạc của Nguyễn Văn C nhưng qua điều tra xác định không đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự và đã hết thời hiệu xử lý vi phạm hành chính nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý xét thấy là phù hợp.

[7]. Qua xem xét toàn bộ nội dung vụ án, xét thấy quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở để chấp nhận. Mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự nhưng không xem xét áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự để xử lý đối với bị cáo.

[8]. Về án phí sơ thẩm hình sự, bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu 200.000 đồng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng khoản 1 Điều 138; các điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội“Trộm cắp tàisản”.

Phạt bị cáo Nguyễn Văn C 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án (được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10 đến ngày 13/01/2020).

2. Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.


16
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 07/2020/HSST ngày 11/05/2020 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:07/2020/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Phú Tân - Cà Mau
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:11/05/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về