Bản án 07/2020/HNGĐ-ST ngày 05/03/2020 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 07/2020/HNGĐ-ST NGÀY 05/03/2020 VỀ LY HÔN

Ngày 05 tháng 3 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án đã thụ lý số: 603/2019/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2020/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 02 năm 2020 (Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2020/QĐST-HNGĐ ngày 19/02/2020) giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Huỳnh Văn G, sinh năm 1982 (có mặt); Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.

2. Bị đơn: Chị Bùi Thị Bé N, sinh năm 1982 (vắng mặt); Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện ngày 21/10/2019, trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn anh Huỳnh Văn G trình bày:

Anh và chị Bùi Thị Bé N kết hôn vào năm 2005 tại Ủy ban nhân dân xã Tân Thuỷ vào ngày 04/10/2005. Trong quá trình chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm nên đã sống ly thân từ năm 2014 đến nay. Anh nhận thấy tình trạng hôn nhân giữa anh và chị Bé N không thể tiếp tục chung sống nên khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Bé N.

Anh và chị Bé N có 01 con chung tên Huỳnh Hoa N, sinh ngày 15/9/2005. Từ khi ly thân con chung do chị Bé N nuôi dưỡng, khi ly hôn anh đồng ý để con cho chị Bé N tiếp tục nuôi dưỡng và anh đồng ý cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000đ (Một triệu đồng) đến khi con chung tròn 18 tuổi.

Tài sản chung không yêu cầu giải quyết, nợ chung không có.

* Chị Bùi Thị Bé N được Tòa án nhân dân huyện Ba Tri tống đạt tất cả văn bản tố tụng nhưng chị Bé N không có ý kiến gì và vắng mặt không lý do trong các phiên giải quyết của Tòa án.

* Theo biên bản lấy ý kiến ngày 07/01/2020, cháu Huỳnh Hoa N có nguyện nguyện vọng sống với chị Bùi Thị Bé N.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri trình bày quan điểm: Về tố tụng, Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục. Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự, thể hiện vô tư, khách quan. Đối với đương sự, nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ. Bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, nên bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Về quan điểm giải quyết vụ án: Anh Huỳnh Văn G và chị Bùi Thị Bé N có đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân xã Tân Thuỷ vào ngày 04/10/2005. Trong quá trình chung sống, theo anh G do giữa anh và chị Bé N bất đồng quan điểm nên đã sống ly thân từ năm 2014 và tại Tòa anh G vẫn giữ nguyên quan điểm xin ly hôn. Chị Bé N biết được Tòa án giải quyết nhưng vắng mặt, điều đó thể hiện chị Bé N không có thiện chí hàn gắn. Xét trình trạng hôn nhân giữa anh G và chị Bé N không có khả năng hàn gắn. Căn cứ Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh G đối với chị Bé N. Về con chung: Anh G và chị Bé N có 01 con chung tên Huỳnh Hoa N, sinh ngày 15/9/2005. Con chung anh G đồng ý để chị Bé N tiếp tục nuôi, cháu N hiện sống với chị Bé N và cháu N có nguyện vọng với chị Bé N nên chị Bé N tiếp tục nuôi dưỡng con chung là phù hợp theo Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình. Ghi nhận sự tự nguyện của anh G cấp dưỡng nuôi cháu N mỗi tháng 1.000.000đ. Tài sản, nợ chung không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Từ các lời trình bày trên;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tố tụng: Chị Bùi Thị Bé N được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng chị Bé N vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, việc đưa vụ án ra xét xử vắng mặt chị Bùi Thị Bé N là phù hợp với quy định tại các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Huỳnh Văn G và chị Bùi Thị Bé N kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Thuỷ (Ba Tri – Bến Tre) vào ngày 04/10/2005 nên quan hệ hôn nhân giữa anh G và chị Bé N là hợp pháp. Chị Bé N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng (Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử,…). Tuy nhiên chị Bé N không làm bản tự khai, không giao nộp chứng cứ và vắng mặt tham gia các buổi làm việc được Tòa triệu tập, điều đó đồng nghĩa với việc chị Bé N tự tước đi quyền phản bác ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của anh G. Tại Tòa anh G vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy, qua lời trình bày của anh G và quá trình xác minh có cơ sở xác định giữa anh G và chị Bé N sống ly thân cách nay 06 năm. Trong cuộc sống hôn nhân, giữa anh G và chị Bé N xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Xét tình trạng hôn nhân giữa anh G và chị Bé N không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Huỳnh Văn G đối với chị Bùi Thị Bé N.

[2] Về con chung: Anh G và chị Bé N có 01 con chung là Huỳnh Hoa N, sinh ngày 15/9/2005. Hội đồng xét xử xét thấy, con chung do chị Bé N đang nuôi dưỡng, anh G đồng ý để con cho chị Bé N tiếp tục nuôi dưỡng và cháu N cũng có nguyện vọng sống với chị Bé N nên việc giao con chung cho chị Bé N tiếp tục nuôi con là phù hợp theo Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Huỳnh Văn G cấp dưỡng nuôi cháu N mỗi tháng 1.000.000đ (Một triệu đồng) đến khi cháu N tròn 18 tuổi.

[3] Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

[4] Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

[5] Xét quan điểm đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Về án phí hôn nhân, án phí cấp dưỡng sơ thẩm: 600.000đ (Sáu trăm ngàn đồng) anh Huỳnh Văn G phải nộp theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Huỳnh Văn G đối với chị Bùi Thị Bé N.

2. Con chung: Chị Bùi Thị Bé N tiếp tục nuôi cháu Huỳnh Hoa N, sinh ngày 15/9/2005. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Huỳnh Văn G cấp dưỡng nuôi cháu N mỗi tháng là 1.000.000đ (Một triệu đồng) cho đến khi cháu N tròn 18 tuổi.

Anh Huỳnh Văn G có quyền thăm nom con chung. Khi có nhu cầu, vì lợi ích của con, hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con.

3. Taøi saûn chung: Không yêu cầu giải quyết.

4. Nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

5. Án phí hôn nhân và gia đình, án phí cấp dưỡng sơ thẩm: 600.000đ (Sáu trăm ngàn đồng) anh Huỳnh Văn G phải nộp và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0006772 ngày 18/11/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Anh G còn phải nộp tiếp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai vắng mặt các đương sự, báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.


35
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 07/2020/HNGĐ-ST ngày 05/03/2020 về ly hôn

Số hiệu:07/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Ba Tri - Bến Tre
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:05/03/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về