Bản án 07/2019/HS-ST ngày 27/02/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG

BẢN ÁN 07/2019/HS-ST NGÀY 27/02/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 27 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 07/2019/TLST-HS ngày11/01/2019 theo quyết định đưa  vụ án ra xét xử số: 07/2019/QĐXXST-HS ngày 13/02/2019 đối với bị cáo:

Bùi Đức T, sinh ngày 16/02/1988 tại huyện CH, tỉnh TQ; Nơi ĐKHKTT: Phố ĐT, TT. ĐH, tỉnh PT; Tạm trú tại: Tổ TT2, TT. VL, huyện CH, tỉnh TQ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Xuân T, sinh năm 1960 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T,sinh năm 1962; có vợ Nguyễn Hải Y, sinh năm 1995 và 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2015. Tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2018, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ, ngày 18/12/2018, Bùi Đức T một mình đi bộ từ nhà trọ tại tổ TT2, TT. VL, huyện CH, tỉnh TQ đến khu vực Đền Bách Thần (thuộc tổ 11/9, thị trấn Vĩnh Lộc, huyện Chiêm Hóa) mục đích tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Đến nơi, T gặp một người đàn ông không biết tên, địa chỉ hỏi “anh có ma túy đá bán không”, người đàn ông đó trả lời “có, mua bao nhiêu”, T nói “mua năm trăm nghìn đồng”, đồng thời lấy trong túi quần đang mặc một tờ tiền mệnh giá 500.000đ đưa cho người đàn ông, người đàn ông cầm tiền và đưa cho T 01 (một) gói nhỏ có đặc điểm bên ngoài gói bằng giấy trắng có dòng kẻ, bên trong là ma túy dạng tinh thể màu trắng. T cầm và cất giấu vào túi quần đang mặc đi bộ về phòng trọ. Sau đó lấy một ít để sử dụng bằng cách đốt hút vào cơ thể, số còn lại gói lại như cũ. Đến khoảng 09 giờ ngày 19/12/2018, T đem theo gói ma túy nêu trên ra khu vực chợ CH thì bị tổ công tác Công an huyện CH, tỉnh TQ lập biên bản bắt người phạm tội quả tang (biên bản lập hồi 09 giờ 30 phút, ngày 19/12/2018, tại tổ Trung Tâm 2, thị trấn Vĩnh Lộc, huyện Chiêm Hóa) đối với Bùi Đức T về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ 01 gói nhỏ, có đặc điểm bên ngoài gói bằng giấy trắng có dòng kẻ, bên trong có chứa tinh thể màu trắng. T khai là ma túy, mục đích để sử dụng.

Tại biên bản xét nghiệm tìm chất ma túy hồi: 10 giờ 35 phút, ngày 19/12/2018 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa đối với Bùi Đức T, kết quả: (+) Dương tính. Có chất ma túy trong cơ thể T.

Tại Kết luật giám định số: 104/GĐKTHS ngày 20/12/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Số chất tinh thể màu trắng trong 01 gói nhỏ thu giữ của Bùi Đức T là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 0,228 gam (Không phẩy hai trăm hai mươi tám gam).

Cáo trạng số: 07/CT-VKSCH ngày 10/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa truy tố bị cáo Bùi Đức T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh, điều luật đã nêu trong Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

- Về hình phạt chính: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Đức T từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng tù.

- Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản có giá trị và không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy (Methamphetamine) thu giữa của bị cáo Bùi Đức T, hiện được niêm phong trong một bì dán kín, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Bùi Đức T, thành phần tham gia niêm phong và 05 hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang. Mặt trước ghi “Tang vật vụ Bùi Đức T, Giám định ngày 19/12/2018).

Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị HĐXX buộc bị cáo phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu và phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, không có ý kiến tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1]. Về việc xem xét hành vi của Bùi Đức T.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Đức T thừa nhận bị cáo có hành vi tàng trữ 0,228 gam (Không phẩy hai trăm hai mươi tám gam) ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết luận giám định, biên bản bắt người phạm tội quả tang và toàn bộ các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ trên đã có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 09 giờ 30 ngày19/12/2018, tại tổ Trung Tâm 2, thị  trấn Vĩnh Lộc, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, Bùi Đức T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,228 gam (Không phẩy hai trăm hai mươi tám gam) ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng. Như vậy, khối lượng ma túy đã thu giữ của bị cáo Bùi Đức T trong phạm vi khối lượng ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Do đó, hành vi của Bùi Đức T đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự và Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa truy tố đối với bị cáo T là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

 [2]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự cần áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

 [3]. Về việc quyết định hình phạt đối với bị cáo.

- Hình phạt chính: Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà Nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do vậy cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định (tù có thời hạn) như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo. Xét thấy tuy khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ trên mức khởi điểm được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự nhưng lượng chênh lệch không cao, bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên xử phạt bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

- Hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra xác định Bùi Đức T là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản gì có giá trị nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

[4]. Về việc xem xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.

Quá trình điều tra, truy tố các Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm do Luật định. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, giải quyết vụ án đúng theo trình tự, thủ tục được thể hiện thông qua việc ghi chép, lập biên bản các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, thực hiện việc xét hỏi, tranh tụng đúng quy định tại các Điều 289, 306, 315, 320, 321, 322 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

 [5] Về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo bản án và các vấn đề khác. 

Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo 01 gói ma túy có tổng trọng lượng 0,228g (Không phẩy hai trăm hai mươi tám gam) sau khi đã lấy đi giám định số còn lại được niêm phong trong phong bì cần tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Bùi Đức T, do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ, cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý; Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Bùi Đức T, Công an huyện Chiêm Hóa đã ra Quyết định xử phạt hành chính. Do vậy, HĐXX không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 106, 136, 331 và 333 Bộ Luật tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

- Tuyên bố: Bị cáo Bùi Đức T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

1. Về hình phạt: Xử phạt Bùi Đức T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 19/12/2018).

2. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy (Methamphetamine) thu giữa của bị cáo Bùi Đức T, hiện được niêm phong trong một bì dán kín, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Bùi Đức T, thành phần tham gia niêm phong và 05 hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang. Mặt trước ghi “Tang vật vụ Bùi Đức T, Giám định ngày 19/12/2018).

 (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Chiêm Hóa và Chi cục thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa lập ngày 10/01/2019).

3. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Bùi Đức T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.


59
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 07/2019/HS-ST ngày 27/02/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:07/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chiêm Hóa - Tuyên Quang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:27/02/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về