Bản án 07/2019/HS-ST ngày 12/03/2019 về tội giữ người trái pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

BẢN ÁN 07/2019/HS-ST NGÀY 12/03/2019 VỀ TỘI GIỮ NGƯỜI TRÁI PHÁP LUẬT

Ngày 12 tháng 03 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2018/ TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2019/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2019 đốivới các bị cáo:

1. Họ và tên: Trần Thị L; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 10 tháng 10 năm 1972; Nơi ĐKNKTT và chổ ở: thôn 3, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; Trình độ học vấn: 8/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Trần Văn D (đã chết); Con bà: Hoàng Thị S (đã chết); Anh, chị, em ruột: Có 6 người (bị cáo là con thứ năm trong gia đình); Chồng: Phạm Anh S, sinh năm 1964 (là bị hại trong vụ án); Con: 03 con (lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 1999); Tiền án, tiền sự: không; Bị khởi tố bị can ngày 09/7/2018, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/7/2018 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt) 2. Họ và tên: Phạm Thị Thu H; Tên gọi khác: Không ; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 28 tháng 03 năm 1999; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: thôn 3, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông: Phạm Anh S (là bị hại trong vụ án); Con bà: Trần Thị L, Sinh năm: 1972; Nơi cư trú: thôn 3, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh (là bị can trong vụ án) Anh, chị, em ruột: Có 3 người (bị cáo là con thứ ba trong gia đình); Chồng, con: chưa; Tiền án, tiền sự:

không; Bị khởi tố bị can ngày 11/10/2018, được áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện trú tại: thôn 3, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh.(Có mặt)

* Luật sư bào chữa cho bị cáo Trần Thị L và bị cáo Phạm Thị Thu H: :

- Ông Trần Mỹ B – Công ty Luật TNHH Thuận Cường, Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt)

* Đại diện gia đình người bị hại:

- Chị Phạm Thị H; Sinh năm: 1995; Địa chỉ: thôn Y; xã X; huyện N; tỉnh Hà Tĩnh (có mặt)

* Người có quyền lợi nghĩ vụ L quan:

- Phạm Thị T; Sinh năm: 1970; Địa chỉ: thôn 4; xã X; huyện N; tỉnh Hà Tĩnh Tĩnh Tĩnh Tĩnh

- Phạm Thị T; Sinh năm: 1968; Địa chỉ: : thôn 3; xã X; huyện N; tỉnh Hà

* Người làm chứng có mặt:

- Lê Thị V; Sinh năm: 1948; Địa chỉ: thôn 3, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh

- Trần Thị H; Sinh năm: 1987; Địa chỉ: thôn 3 ; xã X; huyện N; tỉnh Hà

- Trần Minh T; Sinh năm: 1961; Địa chỉ: thôn 3; xã X; huyện N; tỉnh Hà

- Trần Quốc T; Sinh năm: 1964; Địa chỉ:thôn 3; thôn 3, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh

- Lê Thị P; Sinh năm: 1964; Địa chỉ: thôn 3; thôn 3, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh Tĩnh

- Trần Thị H; Sinh năm: 1986; Địa chỉ: thôn T xã X; huyện N; ỉnh Hà Tĩnh

- Trần Văn M; Sinh năm: 1963; Địa chỉ: thôn 4, xã X, huyện N, tỉnh Hà

- Trần Thị M; Sinh năm: 1966; Địa chỉ: thôn 2; thôn 3, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh

- Nguyễn Thị D; Sinh năm: 1964; Địa chỉ: thôn 3; thôn 3, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh

- Trần Thị H ;Sinh năm: 1968; Điạ chỉ: thôn 3; thôn 3, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh

- Trần Văn T; Sinh năm: 1965; Địa chỉ: thôn 2; thôn 3, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh Tĩnh

- Phạm Thị H; Sinh năm: 1995; Địa chỉ: thôn Y; xã X; huyện N; tỉnh Hà

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Thị L và Phạm Anh S đều trú tại thôn 3, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh là vợ chồng đã có với nhau 03 người con gồm: Phạm Thị H; Phạm Sỹ H (đang đi lao động tại Đài Loan); Phạm Thị Thu H. Khoảng 12 giờ ngày 06/7/2018, sau khi đi làm chứng minh nhân dân về, Trần Thị L cùng 2 người con là Phạm Thị Thu H (SN 1999) và Phạm Thị H (SN 1995) thấy anh Phạm Anh S và bà Lê Thị V (là người bà con ở cạnh nhà L) đang ngồi ở sân uống bia, ăn bánh cuốn. Trần Thị L, Phạm Thị Thu H và Phạm Thị H chào anh S và bà V rồi đi vào nhà nằm nghỉ. Thấy mọi người về, anh S vào rủ cả nhà đi sang biển Cửa Lò, tỉnh Nghệ An chơi nhưng không ai đồng ý nên anh S chửi bới vợ con một lúc rồi đi ra khỏi nhà. Khoảng 30 phút sau, anh S về nhà lấy đồ thắp hương do Phạm Thị H mua về thắp hương cho ông nội xuống (vì ngày hôm đó là ngày giỗ bố anh S) và nói “ai mượn mi về đây thắp hương, mi đưa về trong nhà mi mà thắp”. Thấy vậy, Phạm Thị H nói “Ông cũng là ông của con, con về thắp hương cho ông thì sao”, 2 bố con cãi nhau, nên anh S dùng tay đánh vào đầu H. Thấy vậy, Trần Thị L và Phạm Thị Thu H vào can ngăn và đẩy H ra phía sau giếng gần phòng bếp. Anh Phạm Anh S tiếp tục đi xuống phòng bếp lấy bàn xoa (là dụng cụ dùng để làm thợ nề) đánh vào đầu Trần Thị L nên L gọi “H ơi, cha đánh mẹ”, Phạm Thị Thu H vào và cùng với Trần Thị L cầm tay anh S bẻ ra phía sau và đẩy anh S úp mặt vào tường, làm vùng trán và mặt anh S bị xây xát. Lúc này anh S cắn vào vai L và vùng vẫy làm H bị đau nên L bảo H “con lấy cho mẹ đoạn dây để mẹ trói bố”, H lấy 01 con dao cắt từ tấm ri 01 sợi dây vải, rồi cùng với Trần Thị L trói tay anh S. Sau khi bị trói, anh S giãy dụa nên sợi dây bị lỏng L gọi Phạm Thị H lấy cho L đoạn dây, H lấy 01 sợi dây điện màu đen ở giường trong phòng bếp đưa cho H để L và H tiếp tục trói tay anh S. Sau khi trói anh S, Trần Thị L đẩy anh S vào phòng ngủ ở gian lồi thì anh S chạy ra phía bếp và hô hoán nhưng bị L đẩy trở lại phòng ngủ và lấy 02 sợi dây điện màu đen (loại dây cắm nồi cơm điện và ấm đun nước) và tiếp tục trói tay, trói chân anh S lại. Sau đó, thấy bà Lê Thị V sang nên Trần Thị L đi ra phía sau bếp nói chuyện với bà V, một lúc sau bà V ra về. Lúc này Phạm Thị H vào nhà nằm nghỉ, còn Trần Thị L và Phạm Thị Thu H chuẩn bị làm giỗ cho bố của anh S. Trong lúc làm Trần Thị L vẫn đi lại phòng của anh S để kiểm tra, xem xét anh S, lúc thấy dây trói tay, trói chân anh S bị lỏng, L đi ra nhà tắm cắt từ ri đô ra 02 sợi dây và tiếp tục trói tay, chân anh S lại. Sau khi trói anh S bằng 02 dây vải, L dùng kéo cắt 02 sợi dây điện buộc ở tay và 01 sợi dây điện buộc ở chân anh S ra vứt xuống nền nhà và đi ra ngoài thì H hỏi L “Làm thế này có tội quá không mẹ”, L nói “tội gì mà tội, trói lại ta cho ăn, giờ mẹ con mình đều đi làm ai cũng có tiền cả rồi, mỗi tháng trích 1.000.000đ để nuôi cha, sáng, tối mẹ cho cha ăn, ỉa đái mẹ lo, con không phải lo, con cho cha ăn vào buổi trưa vì buổi trưa con được nghỉ”.

Khoảng 16 giờ chiều cùng ngày, sau khi Phạm Thị H ngủ dậy Trần Thị L lấy xôi gà để H mang về nhà chồng. Trước khi về H hỏi H: “bố thế nào rồi?”, H nói: “bố vẫn bị nhốt ở trong phòng”, H nói: “cho bố ăn với, lúc nào bố tỉnh thì cởi trói cho bố”, rồi H ra về. Sau đó, anh S tiếp tục chửi bới vợ con nên Trần Thị L đi vào phòng dùng 01 sợi dây vải màu đỏ buộc quanh miệng anh S lại rồi L và H đến nhà chị Trần Thị Hoa (sinh năm 1986), trú tại thôn Trường Lam, xã Xuân Hải, huyện Nghi Xuân. Tại nhà chị Hoa L bảo H đi mua 01 ổ khoá để đưa về nhà khóa cửa rồi hai mẹ con đi về nhà. Khi về đến nhà anh S tiếp tục chửi bới nên Trần Thị L bảo H đi mua cuộn băng dính loại to để dán miệng anh S lại. Phạm Thị Thu H đến một quán tạp hoá ở xóm 2, xã Xuân Phổ mua 01 cuộn băng dính đưa về cho Trần Thị L, L dùng băng dính dán quanh miệng anh S rồi tiếp tục cùng H dọn nhà. Khoảng 19 giờ, cùng ngày bà Lê Thị Phương (sinh năm 1964), trú cùng thôn đi chăn bò về nghe thấy tiếng anh S kêu, bà Phương hỏi thì L nói “anh S say rượu nên L trói lại”. Một lúc sau Trần Thị L thấy mệt nên bảo Phạm Thị Thu H chở L đi chuyền nước. Trước khi đi, H đứng ở ngoài cửa phòng còn L vào hỏi anh S “có ăn gì không”, anh S nói “không ăn” nên L đóng cửa phòng ngủ và chốt phía ngoài rồi cùng H đến nhà chị Trần Thị Xoan, là y sỹ xã Xuân Phổ để chuyền nước. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày Trần Thị L và Phạm Thị Thu H ra về, khi về đến nhà, L bảo H dừng xe ở cổng, L vào trước nhìn qua cửa sổ phòng lồi thấy trong phòng điện sáng và có bật quạt, anh S vẫn bị trói và nằm trên giường, xe đạp của anh S vẫn dựng ở trước sân. Lúc này Trần Thị L bảo H sang nhà bà V cùng với L với, khi đi đến khu vực nhà bếp của bà V, L hỏi bà V “Mự có thấy anh S đâu không” bà V nói “tao không biết”. Sau đó Trần Thị L, Phạm Thị Thu H về nhà nằm nghỉ ở nệm trước cửa phòng ngủ nơi anh S nằm. Lúc này Trần Thị L đi ra, đi vào phòng nói chuyện với anh S, sau đó L tiếp tục dùng dây xích và ổ khoá để trói tay anh S nhưng do sợi xích bị lỏng nên L mở ra và tiếp tục đi ra phía sau nhà tắm cắt từ tấm ri đô 02 sợi dây trói tiếp vào tay, chân của anh S. Lúc này anh S nói L cởi trói để anh S uống nước, Trần Thị L dùng kéo cắt băng dính, dây vải màu đỏ buộc miệng và dây trói ở chân anh S để anh S uống nước và đi vệ sinh. Còn dây trói ở tay vẫn giữ nguyên, sau đó Trần Thị L ngồi canh chừng không cho anh S đi ra khỏi phòng ngủ, anh S vẫn chửi L và các con nên hai vợ chồng tiếp tục cãi nhau.

Đến khoảng 01giờ ngày 07/7/2018, do bức xúc vì bị anh Phạm Anh S chửi bới, nên Trần Thị L đi vào phòng anh S đang ngồi trên giường rồi dùng chiếc áo sơ mi dài tay sọc xanh của anh S, đứng trên giường dùng áo quấn hai vòng quanh cổ anh S, siết lại rồi buộc hai lần. Anh S vùng vẫy, phản kháng làm sập giường, đầu đập vào mạ giường rồi úp mặt xuống đất nằm im. Lúc này Trần Thị L tiếp tục nắm chặt chiếc áo đang siết cổ anh S cho đến lúc anh S chết. Sau khi xác định anh S chết, Trần Thị L gọi Phạm Thị Thu H dậy và nói với H: “cha chết rồi”, H dậy dọn dẹp đồ ở trong nhà còn L vào phòng ngủ lấy kéo cắt hết dây đang trói ở tay và áo đang siết ở cổ anh S rồi thu gom tất cả các sợi dây đã cắt từ trước để vào túi ni lông màu đen rồi vứt ra vườn. Sau đó, L và H gọi người thân, hàng xóm để thông báo sự việc anh S chết (BL 92-157).

- Tại biên bản khám nghiệm tử thi Phạm Anh S (sinh năm 1964) trú tại khối xóm 3 xã Xuân Phổ, huyện nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh lập vào hồi 8 giờ 40 phút ngày 07/7/2018 phản ánh:

Các dấu vết tổn thương trên cơ thể: Vùng trán phải có đám sưng nề, kích thước 8cmx9cm, trên nền sưng nề có vết rách da, kích thước 1,5cmx0,2cm;

Cách 1cm dưới đuôi mắt phải có vết xây xước da kích thước 2cmx1,8cm; Cách 03cm dưới sau đuôi mắt phải có vết xây xát da kích thước 4cmx1,3cm; Ngay lông mày trái có đám sưng nề, kích thước 10cmx4,5cm, trên nềm sưng nề có 02 vết xây xát da, vết 1 kích thước 1,5x1,7cm, vết 2 kích thước 0,5cmx0,8cm; Hai bên khóe miệng bị bầm dập, tụ máu, hằn chai da, rộng 1cm đậm về phía trước, nhạt dần về phía sau; Vùng cổ trái dọc theo xương hàm dưới có nhiều vết xây xước da, tụ máu trên diện 11cmx4cm; Vai phải có vết xây xát da, kích thước 6cmx2cm; Mặt sau khuỷu tay phải có nhiều vết xây xát da, nằm rải rác trên diện 7cmx6cm; Mu bài tay phải sưng nề; Mặt trước 1/3 giữa cẳng tay phải bị bầm tụ máu kích thước 3cmx5,5cm;Vai trái có vết bầm tụ máu, kích thước 5,5cmx6cm trên nền sưng nề có vết xây xát da, kích thước 1,2cmx5cm; Mặt sau khuỷu tay trái có nhiều vết xây xát da nằm rải rác trên diện 6cmx6,5cm; Vòng quanh 1/3 dưới cảng tay trái có nhiều lớp phồng rộp, bong tróc da; Vùng ngực trái, cách 4cm dưới sau núm vú trái có đám sưng nề, kích thước 5cmx7cm.

Giải phẫu vùng đầu: Vùng trán tụ máu đến lớp cơ; Vết thương vùng trán phải tổn thương đến lớp cơ; Dưới da đầu bình thường, xương hộp sọ không tổn thương; Tổ chức não thuần nhất, các khe, cuốn não không tụ máu, tiểu não không bị tổn thương.

Giải phẫu vùng cổ, ngực, bụng: Dưới da, giữa các bó cơ vùng cổ trái tụ máu; Động mạch cảnh bên trái tụ máu; Lòng khí quản tụ máu ngang và trên sụn nắp thanh quản; Khoang ngực không có dịch máu; Tim xuất huyết dạng chấm rải rác; Phổi xẹp, xung huyết, xuất huyết dạng chấm rải rác; Trung thất không bị tổn thương; Ổ bụng không có dịch máu, các tạng trong ổ bụng không bị tổn thương; Trong dạ dày chứa ít nước, đã hết thức ăn.

- Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 58/PC54 ngày 10/7/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận:Nguyên nhân chết của ông Phạm Anh S: Ngạt cơ học (BL 23 -24).

- Tại biên bản khám nghiệm hiện trường lập vào hồi 8 giờ ngày 7/7/2018 phản ánh: Hiện trường được xác định tại nhà ông Phạm Anh S ở thôn 3, xã Xuân Phổ, Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.

Nhà ông Phạm Anh S ngoảnh hướng Bắc, phía Bắc tiếp giáp với đường L thôn, phía Nam tiếp giáp với nhà bà Lê Thị V, phía Đông và phía Tây là khu đất sản xuất nông nghiệp; nhà xây lợp Pro xi măng, nền và mặt trong tường được lát gạch hoa, cửa chính mở về hướng bắc là cửa gỗ 02 cánh. Nhà có thiết kế gồm 01 phòng khách, 01 phòng lồi, 01 phòng ngủ và khu vực nhà bếp.

Kiểm tra phòng khách thấy đồ đạc đã được dọn hết, không phát hiện dấu vết, đồ vật gì đặc biệt.

Kiểm tra phòng lồi thấy: phòng lồi có kích thước 3mx3,4m, tại góc phía tây Nam ngay sát cửa ra vào có đặt 01 chiếc giường bằng gỗ, kích thước 1,5mx2m, đầu giường ở phía Nam, đuôi giường góc phía Tây bắc bị tuột chốt, thành giường rơi xuống nền nhà, giường có 06 thoang, 04 thoang và 02 rạp phía đầu giường bị trập xuống nền nhà, chăn chiếu trên giường lộn xộn. Tại vị trí mặt trong đuôi giường, cách mép giường phía đông 0,3m cách mặt sàn 0,45m phát hiện 02 dấu viết màu nâu nghi máu trên diện 0,07mx0,01m. Dưới giường phát hiện 01 chiếc dày da màu đen và 01 cuộn dây điện màu vàng, cách cửa ra vào phòng lồi 01m về phía Bắc phát hiện 01 chiếc giày da màu đen.

Tử thi Phạm Anh S được phát hiện nằm trên nền nhà tương ứng vị trí góc tây bắc của chiếc giường, trong tư thế nằm sấp, đầu hướng bắc, chân hướng nam, phần mặt ngoảng về hướng Đông. Trên nên nhà dưới đầu tử thi phát hiện dấu vết (nghi máu) kích thước 0,20mx0,15m.

Ngoài ra, tại phòng lồi sát mép tường phía bắc có 01 chiếc tủ gỗ, tại đây đồ đạc vật dụng bình thường, không phát hiện dấu vết gì. Tiếp giáp với phòng khách về phía Nam là phòng ngủ trong phòng ngủ đồ đạc, vật dụng lộn xộn, không phát hiện dấu vết, đồ vật gì đặc biệt. Liền kề với phòng ngủ về phía Nam là khu vực bếp, tại đây đồ đạc vật dụng lộn xộn. Tại cửa sổ nằm ở tường phía tây nhà bếp, phát hiện 01 đoạn dây vải màu vàng nhạt dài 0,94m được vắt qua song cửa. Ngoài ra qua kiểm tra ở đây không phát hiện ra dấu vết đồ vật gì đặc biệt.

Mở rộng hiện trường, tại tường phía Đông của nhà bếp có 01 cửa thông ra khu vực giếng và vườn. Tại nền giếng phát hiện 01 tấm vải màu vàng nhạt kích thước 1,7mx1m, trên thành giếng phát hiện 01 sợi dây màu đỏ dài 0,8m được nối bằng 04 đoạn vải.

Dấu vết, tài liệu và mẫu vật thu được qua khám nghiệm hiện trường:02 dấu vết màu nâu tại mặt trong đuôi giường; 01 dấu vết máu trên nền nhà dưới đầu tử thi; 01 cuộn dây điện màu vàng phát hiện dưới giường; 01 đoạn giây vải màu vàng nhạt tại song cửa sổ nhà bếp; 01 tấm vải màu vàng nhạt thu tại nền giếng; 01 đọan giây màu đỏ được nối bằng 4 đoạn vải tại thành giếng (Bút lục số 12-13) - Tại bản kết luận giám định số 10-GĐVS/PC54 ngày 20/7/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận:Dấu vết màu nâu ký hiệu A1, A2, A6, A7 gửi tới giám định là máu người thuộc nhóm máu AB trong hệ nhóm máu ABO, cùng nhóm máu của mẫu máu nạn nhân Phạm Anh S, sinh năm 1964, trú tại xóm 3, xã Xuân Phổ, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh (ký hiệu M) gửi tới giám định (BL 25-26) * Vật chứng của vụ án:

+ 01 cuộn dây điện phát hiện dưới gầm giường; 01 đoạn dây vải màu vàng nhạt dài 0,94m; 01 tấm vải màu vàng nhạt kích thước (1,7x1)m; 01 đoạn dây màu đỏ dài 0,8m được nối bằng 04 đoạn vải (thu khi khám nghiệm hiện trường);

+ 11 đoạn dây điện màu đen bên trong có 02 đường dây điện gồm các sợi đồng nhỏ, trong đó có 01 đoạn dài 11cm, 01 đoạn dài 13cm; 01 đoạn dài 70cm;

01 đoạn dài 28cm; 01 đoạn dài 30cm; 01 đoạn dài 18cm; 01 đoạn dài 50cm một đầu có gắn ổ cắm; 01 đoạn dài 40cm một đầu có gắn phích cắm; 01 đoạn dài 48cm một đầu có gắn ổ cắm; 01 đoạn dài 20cm một đầu có gắn phích cắm; 01 đoạn dài 34cm được nối từ hai đoạn dây lại với nhau có 04 đầu nhưng 01 đầu có gắn phích cắm 01 đều gắn ổ cắm.

+ 06 đoạn băng dính màu trắng, trong đó 01 đoạn dài 46cm; 01 đoạn dài 48cm; 01 đoạn dài 67cm, 01 đoạn dài 66cm; 01 đoạn dài 82cm; 01 đoạn dài 44cm được dính nhiều lớp lại với nhau.

+ 03 đoạn vải có màu đỏ trong đó 01 đoạn dài 26cm; 01 đoạn dài 32cm; 01 đoạn có hình thập được nối từ 02 đoạn lại với nhau có điểm nối độ dài là 25cm và 28cm.

+ 11 đoạn dây vải có màu vàng nhạt, trong đó có 05 đoạn được nối từ 02 đoạn lại với nhau có khớp nối lần lượt có độ dài là 72cm; 40cm; 38cm; 44cm;

14cm và 06 mảnh dây vải có đồ dài lần lượt là 27cm; 16cm; 17cm; 17cm; 7cm; 05cm.

+ 01 chiếc áo phông màu trắng xanh không có cổ trên áo có chữ LACOSSTE hình con cá sấu, trên áo có 04 vết máu.

+ 01 áo sơ my dài tay sọc xanh trắng trên áo có 02 lỗ thủng, 02 ống tay áo được cột lại với nhau, ống tay áo bên trái đã được cắt rời, phần bị cắt được cột vào ống tay áo bên phải.

+ 02 túi bóng màu đen.

+ 01 chiếc kéo bằng kim loại, tay cầm có bọc bằng nhựa màu xanh đã cũ.

+ 01 mảnh vải ri đô màu vàng nhạt có kích thước (125 x 59)cm, + 01 bàn xoa làm bằng gỗ, phần tay cầm và phần thân bị tách rời, phần cán cong hình trụ tròn rộng 2,5cm, dài 19cm, phần thân hình thang cân rộng 10cm và 13cm, dài 23,5cm (BL: 269).

+ 01 ổ khóa bằng kim loại, phần thân khóa màu xanh, phần móc khóa màu trắng bạc, nơi cắm chìa khoá màu vàng; cùng 01 (một) chìa khoá màu trắng bạc, trên chìa khoá có chữ M.K và VN dùng để mở ổ khoá màu xanh trắng (khóa đã qua sử dụng) + 01 (một) ổ khoá màu đen trắng, phần thân khoá màu đen, trên thân khoá có chữ VIỆT - TIỆP, LOCK, phần móc khoá màu trắng bạc; cùng 01 (một) chìa khoá bằng kim loại màu trắng bạc trên chìa khoá có chữ VIET - TIEP dùng để mở ổ khoá màu đen trắng (không kiểm tra chất lượng bên trong).

* Về bồi thƣờng dân sự: Sau khi sự việc xảy ra gia đình người bị hại đã thống nhất cử chị Phạm Thị H (con gái bị hại) tham gia giải quyết vụ án. Các con của bị cáo, người bị hại đã lo toàn bộ chi phí mang táng cho anh Phạm Anh S. Hiện nay đại diện gia đình người bị hại và anh Phạm Sỹ Hải (con trai bị hại) không yêu cầu bị cáo phải bồi thường và có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Với hành vi phạm tội nêu trên, tại bản cáo trạng số 48/CT-VKS-P2 ngày 19/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Trần Thị L về tội “Giết người” quy định tại khoản 2, Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015 và tội “Giữ người trái pháp luật” quy định khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Bị cáo Phạm Thị Thu H về tội “Giữ người trái pháp luật” quy định tại khoản 1 Điều 157 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, trên cơ sở vai trò vị trí của các bị cáo trong vụ án,các tình tiết giảm nhẹ TNHS và nhân thân các bị cáo đề nghị HĐXX xử phạt: Trần Thị L mức hình phạt 4 đến 5 năm tù về tội giết người và 9 đến 12 tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật” .

Xử phạt Phạm Thị Thu H 6 đến 9 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Giữ người trái pháp luật” Về trách nhiệm dân sự: Miễn xem xét phần dân sự vì đại diện gia đình bị hại không yêu cầu.

Đại diện gia đình người bị hại không yêu cầu các bị cáo bồi thường về dân sự và xin HĐXX miễn trách nhiệm hình sự đối với hành vi “Giữ người trái pháp luật” đối với hai bị cáo, xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo Trần Thị L về tội giết người.

Luật sư bào chữa cho các bị cáo sau khi phân tích hoàn cảnh phạm tội của hai bị cáo căn cứ trên cơ sở các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự,nhân thân các bị cáo đã đề nghị HĐXX miễn trách nhiệm hình sự cho cả hai bị cáo về tội danh “Giữ người trái pháp luật”.Đối với bị cáo Trần Thị L luật sư bào chữa đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội của mình, và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, cải tạo thành người công dân tốt được đóng góp công sức cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Các quyết định của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh Hà Tĩnh,Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa đại diện gia đình người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ L quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiền hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

[2] Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đã khai nhận đầy đủ hành vi phạm tội đã thực hiện. Lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của người làm chứng, thời gian, địa điểm phạm tội nên HĐXX có đủ có cơ sở để kết luận: Vào khoảng 12h30 ngày 06/7/2018, anh phạm Anh S sau khi đi uống riệu về có hành vi đánh Phạm Thị H (con gái lớn của Phạm Anh S và Trần Thị L) và có lời xúc phạm, dọa đánh vợ con nên Trần Thị L đã cùng với Phạm Thị Thu H (con gái út) có hành vi khống chế, dùng dây trói tay, chân anh Phạm Anh S và nhốt anh S vào phòng ngủ. Sau đó Trần Thị L dùng các sợi dây được cắt từ tấm ri đô trói tay, trói chân anh S lại. Bị trói, anh S tiếp tục chửi bới nên Trần Thị L, Phạm Thị Thu H đã dùng dây vải màu đỏ và băng dính loại to dán, bịt miệng anh S lại và nhốt vào phòng ngủ trong khoảng thời gian từ 13giờ ngày 06/7/2018 đến 01 giờ ngày 07/7/2018. Sau khi trói tay, chân, miệng nhưng anh S vẫn chửi bới, xúc phạm đến mình và các con nên đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 07/7/2018 Trần Thị L đã lấy chiếc áo sơ mi dài tay quấn hai vòng quanh cổ anh S và siết cổ anh S cho đến chết.

[2.1] Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp tính mạng và quyền bất khả xâm phạm thân thể,quyền tự do đi lại của người khác được nhà nước và pháp luật bảo hộ, ảnh hưởng nghiêm trọng tình hình trật tự trị an, gây lo lắng hoang mang trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý do vậy Cáo trạng số 48/CT-VKS ngày 19/11/2018của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Trần Thị L về tội “Giết người” và tội “Giữ người trái pháp luật” quy định tại khoản 2, Điều 123 và khoản 1 Điều 157 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Bị cáo Phạm Thị Thu H về tội “Giữ người trái pháp luật” quy định tại khoản 1 Điều 157 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội, không oan sai.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối cải được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1; Đại diện gia đình người bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Gia đình Bị cáo Phạm Thị L tự nguyện nộp 50.000.000đ bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại nên được xem xét giảm nhẹ theo điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS,bố của bị cáo là người có công với cách mạng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Đối với bị cáo Phạm Thị Thu H phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng,thành khẩn khai báo. Tuy đại diện gia đình bị hại không đề nghị bồi thường thiệt hại nhưng bị cáo đã tự nguyện bồi thường một phần chi phí mai táng cho ông Phạm Anh S nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i,s khoản 1 Điều 51 BLHS.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Xét vị trí vai trò các bị cáo trong vụ án:

[5.1] Trong vụ án này Trần Thị L là người giữ vai trò chính và chịu trách nhiệm về hành vi giết người và hành vi Giữ người trái pháp luật do vậy cần xử phạt hình phạt nghiêm minh đối với bị cáo,tuy nhiên xét bị cáo L có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt. Quá trình xảy ra sự việc và trong cuộc sống sinh hoạt bị hại cũng có một phần lỗi, nhiều người dân có đơn xác nhận và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo vì bản thân Trần Thị L là người phụ nữ H lành có trách nhiệm trong gia đình và với nhà chồng, người bị hại là chồng của bị cáo thường xuyên uống rượu gây gỗ đuổi đánh mẹ con bị cáo,tại thời điểm phạm tội, xích mích giữa hai vợ chồng và hành vi đánh con gái ruột khi con gái đang mang thai,chửi bới đánh mẹ con bị cáo của người bị hại là nguyên do dẫn đến việc bị cáo có hành động trái pháp luật tước đi mạng sống của người bị hại. Đại diện gia đình bị hại là con gái ruột của bị cáo và bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ TNHS cho bị cáo và trình bày việc hoàn cảnh trong gia đình bị cáo là người phụ nữ cam chịu, nhiều năm chịu áp bức dày vò từ chồng của mình. Xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo cũng như hoàn cảnh phạm tội bị hại cũng có phần lỗi, chính quyền địa phương cũng xác nhận việc bị hại từng đánh đập bị cáo và chính quyền đã đến làm việc. Từ phân tích trên HĐXX nhận thấy cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật, áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất xử phạt đối với bị cáo về hành vi giết người là có căn cứ.

[5.2] Đối với hành vi Giữ người trái pháp luật Phạm Thị L giữ vai trò chính, Phạm Thị Thu H là người giúp sức. Xét Bị cáo Phạm Thị L đã bị xử phạt về hành vi giết người, đối với hành vi Giữ người trái pháp luật cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự do có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Đối với bị cáo Phạm Thị Thu H trong vụ án này bị cáo là con ruột của bị cáo L và con ruột của người bị hại , bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhận thức pháp luật hạn chế do tuổi đời còn trẻ, hơn nữa hoàn cảnh phạm tội bị hại cũng có phần lỗi.Tại phiên tòa bị cáo đã trình bày việc nhiều năm nay mẹ con bị cáo bị bố đuổi đánh mỗi khi bố uống rượu,tại thời điểm phạm tội bị cáo nhận thức việc cùng với bị cáo L giữ người bị hại là do nhận thức bố của bị cáo say thả bố ra có thể sợ bị đánh. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS tại khoản 1 Điều 51 BLHS,có nhân thân tốt,có nơi cư trú rõ ràng vì vậy HĐXX áp dụng mức hình phạt dưới khung thấp nhất xử phạt đối với bị cáo và xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hôi mà cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo giáo dục tại địa phương cũng đủ nghiêm.

[6] Về trách nhiệm dân sự đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu vì vậy miễn xem xét

[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 BLTTHS năm 2015, Điều 47 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 cuộn dây điện phát hiện dưới gầm giường; 01 đoạn dây vải màu vàng nhạt dài 0,94m; 01 tấm vải màu vàng nhạt kích thước (1,7x1)m; 01 đoạn dây màu đỏ dài 0,8m được nối bằng 04 đoạn vải (thu khi khám nghiệm hiện trường);

+ 11 đoạn dây điện màu đen bên trong có 02 đường dây điện gồm các sợi đồng nhỏ, trong đó có 01 đoạn dài 11cm, 01 đoạn dài 13cm; 01 đoạn dài 70cm;

01 đoạn dài 28cm; 01 đoạn dài 30cm; 01 đoạn dài 18cm; 01 đoạn dài 50cm một đầu có gắn ổ cắm; 01 đoạn dài 40cm một đầu có gắn phích cắm; 01 đoạn dài 48cm một đầu có gắn ổ cắm; 01 đoạn dài 20cm một đầu có gắn phích cắm; 01 đoạn dài 34cm được nối từ hai đoạn dây lại với nhau có 04 đầu nhưng 01 đầu có gắn phích cắm 01 đều gắn ổ cắm.

+ 06 đoạn băng dính màu trắng, trong đó 01 đoạn dài 46cm; 01 đoạn dài 48cm; 01 đoạn dài 67cm, 01 đoạn dài 66cm; 01 đoạn dài 82cm; 01 đoạn dài 44cm được dính nhiều lớp lại với nhau.

+ 03 đoạn vải có màu đỏ trong đó 01 đoạn dài 26cm; 01 đoạn dài 32cm; 01 đoạn có hình thập được nối từ 02 đoạn lại với nhau có điểm nối độ dài là 25cm và 28cm.

+ 11 đoạn dây vải có màu vàng nhạt, trong đó có 05 đoạn được nối từ 02 đoạn lại với nhau có khớp nối lần lượt có độ dài là 72cm; 40cm; 38cm; 44cm; 14cm và 06 mảnh dây vải có đồ dài lần lượt là 27cm; 16cm; 17cm; 17cm; 7cm; 05cm.

+ 01 chiếc áo phông màu trắng xanh không có cổ trên áo có chữ LACOSSTE hình con cá sấu, trên áo có 04 vết máu.

+ 01 áo sơ my dài tay sọc xanh trắng trên áo có 02 lỗ thủng, 02 ống tay áo được cột lại với nhau, ống tay áo bên trái đã được cắt rời, phần bị cắt được cột vào ống tay áo bên phải.

+ 02 túi bóng màu đen.

+ 01 chiếc kéo bằng kim loại, tay cầm có bọc bằng nhựa màu xanh đã cũ.

+ 01 mảnh vải ri đô màu vàng nhạt có kích thước (125 x 59)cm,

+ 01 bàn xoa làm bằng gỗ, phần tay cầm và phần thân bị tách rời, phần cán cong hình trụ tròn rộng 2,5cm, dài 19cm, phần thân hình thang cân rộng 10cm và 13cm, dài 23,5cm (BL: 269).

+ 01 ổ khóa bằng kim loại, phần thân khóa màu xanh, phần móc khóa màu trắng bạc, nơi cắm chìa khoá màu vàng; cùng 01 (một) chìa khoá màu trắng bạc, trên chìa khoá có chữ M.K và VN dùng để mở ổ khoá màu xanh trắng (khóa đã qua sử dụng)

01 (một) ổ khoá màu đen trắng, phần thân khoá màu đen, trên thân khoá có chữ VIỆT - TIỆP, LOCK, phần móc khoá màu trắng bạc; cùng 01 (một) chìa khoá bằng kim loại màu trắng bạc trên chìa khoá có chữ VIET - TIEP dùng để mở ổ khoá màu đen trắng (không kiểm tra chất lượng bên trong).

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Trần Thị L phạm tội “Giết người” và tội “Giữ người trái pháp luật”; Bị cáo Phạm Thị Thu H phạm tội “Giữ người trái pháp luật”.

- Áp dụng khoản 2 Điều 123; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 54 BLHS xử phạt Trần Thị L 4 năm tù về tội “Giết người” Áp dụng khoản 1 Điều 157 điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017BLHS xử phạt Trần Thị L 6 tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật” .

Áp dụng Điều 55 BLHS 2015Tổng hợp hình phạt chung cả hai tội buộc bị cáo Trần Thị L phải chấp hành là 4 năm 6 tháng tù,thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 07/7/2018.

- Áp dụng khoản 1 Điều 157; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,Điều 54 BLHS xử phạt Phạm Thị Thu H 4 tháng tù cho hưởng án treo,thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm Giao bị cáo Phạm Thị Thu H cho chính quyền địa phương UBND xã Xuân Phổ, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án hình sự

3. Về xử lý vật chứng của vụ án:

Căn cứ Điều 106 BLTTHS năm 2015, Điều 47 BLHS năm 2015.

* Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 cuộn dây điện phát hiện dưới gầm giường; 01 đoạn dây vải màu vàng nhạt dài 0,94m; 01 tấm vải màu vàng nhạt kích thước (1,7x1)m; 01 đoạn dây màu đỏ dài 0,8m được nối bằng 04 đoạn vải (thu khi khám nghiệm hiện trường);

+ 11 đoạn dây điện màu đen bên trong có 02 đường dây điện gồm các sợi đồng nhỏ, trong đó có 01 đoạn dài 11cm, 01 đoạn dài 13cm; 01 đoạn dài 70cm;

01 đoạn dài 28cm; 01 đoạn dài 30cm; 01 đoạn dài 18cm; 01 đoạn dài 50cm một đầu có gắn ổ cắm; 01 đoạn dài 40cm một đầu có gắn phích cắm; 01 đoạn dài 48cm một đầu có gắn ổ cắm; 01 đoạn dài 20cm một đầu có gắn phích cắm; 01 đoạn dài 34cm được nối từ hai đoạn dây lại với nhau có 04 đầu nhưng 01 đầu có gắn phích cắm 01 đều gắn ổ cắm.

+ 06 đoạn băng dính màu trắng, trong đó 01 đoạn dài 46cm; 01 đoạn dài 48cm; 01 đoạn dài 67cm, 01 đoạn dài 66cm; 01 đoạn dài 82cm; 01 đoạn dài 44cm được dính nhiều lớp lại với nhau.

+ 03 đoạn vải có màu đỏ trong đó 01 đoạn dài 26cm; 01 đoạn dài 32cm;

01 đoạn có hình thập được nối từ 02 đoạn lại với nhau có điểm nối độ dài là 25cm và 28cm.

+ 11 đoạn dây vải có màu vàng nhạt, trong đó có 05 đoạn được nối từ 02 đoạn lại với nhau có khớp nối lần lượt có độ dài là 72cm; 40cm; 38cm; 44cm;

14cm và 06 mảnh dây vải có đồ dài lần lượt là 27cm; 16cm; 17cm; 17cm; 7cm, 05cm.

+ 01 chiếc áo phông màu trắng xanh không có cổ trên áo có chữ LACOSSTE hình con cá sấu, trên áo có 04 vết máu.

+ 01 áo sơ my dài tay sọc xanh trắng trên áo có 02 lỗ thủng, 02 ống tay áo được cột lại với nhau, ống tay áo bên trái đã được cắt rời, phần bị cắt được cột vào ống tay áo bên phải.

+ 01 túi bóng màu đen.

+ 01 chiếc kéo bằng kim loại, tay cầm có bọc bằng nhựa màu xanh đã cũ.

+ 01 mảnh vải ri đô màu vàng nhạt có kích thước (125 x 59)cm, + 01 bàn xoa làm bằng gỗ, phần tay cầm và phần thân bị tách rời, phần cán cong hình trụ tròn rộng 2,5cm, dài 19cm, phần thân hình thang cân rộng 10cm và 13cm, dài 23,5cm (BL: 269).

+ 01 ổ khóa bằng kim loại, phần thân khóa màu xanh, phần móc khóa màu trắng bạc, nơi cắm chìa khoá màu vàng; cùng 01 (một) chìa khoá màu trắng bạc, trên chìa khoá có chữ M.K và VN dùng để mở ổ khoá màu xanh trắng (khóa đã qua sử dụng)

+ 01 (một) ổ khoá màu đen trắng, phần thân khoá màu đen, trên thân khoá có chữ VIỆT - TIỆP, LOCK, phần móc khoá màu trắng bạc; cùng 01 (một) chìa khoá bằng kim loại màu trắng bạc trên chìa khoá có chữ VIET - TIEP dùng để mở ổ khoá màu đen trắng (không kiểm tra chất lượng bên trong).

4. Về án phí:Áp dụng Điều 135, Điều 136 BLTTHS 2015; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Trần Thị L, Phạm Thị Thu H mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm;

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, đại diện gia đình người bị hại, người L quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


45
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 07/2019/HS-ST ngày 12/03/2019 về tội giữ người trái pháp luật

Số hiệu:07/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hà Tĩnh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:12/03/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về