Bản án 07/2019/HNGĐ-ST ngày 28/05/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG

BẢN ÁN 07/2019/HNGĐ-ST NGÀY 28/05/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 28 tháng 5 năm 2019, tại Nhà văn hóa Khu dân cư B, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 77/2019/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2019 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/5/2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đinh Thị M, sinh năm 1976

Nơi ĐKHKTT: Thôn B, xã L, thành phố C, tỉnh Hải Dương.

Nơi ở hiện nay: Thôn B, xã H, thành phố C, tỉnh Hải Dương, có mặt.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1975

Địa chỉ: Thôn B, xã L, thành phố C, tỉnh Hải Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, các bản tự khai, nguyên đơn là chị Đinh Thị M và bị đơn là anh Nguyễn Văn T trình bày:

Chị M và anh T được tự do tìm hiểu và tự nguyện về chung sống với nhau từ tháng 9/1995. Anh chị được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương nhưng anh chị không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau ngày cưới, anh chị về sống với nhau tại thôn B, xã L, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Anh chị sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2008 thì xảy ra mâu thuẫn và sống ly thân từ đó cho đến nay không liên lạc và không quan tâm đến nhau.

Theo chị M thì nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng với nhau về quan điểm sống và thiếu lòng tin với nhau, anh T nghi ngờ chị sống không chung thủy nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, tình cảm bị sứt mẻ. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

Theo anh T thì nguyên nhân mâu thuẫn là do chị M sống không chung thủy với anh, bản thân anh và gia đình nhiều lần khuyên bảo nhưng chị M không thay đổi. Đến nay, anh xác định tình cảm vợ chồng giữa anh và chị M không còn, chị M xin ly hôn, anh đồng ý. Đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị ly hôn nhau.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Nguyễn Văn T, sinh ngày 20/4/1998 và Nguyễn Văn T, sinh ngày 12/12/2000. Các con chung đều khỏe mạnh, bình thường, chị M và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị M và anh T không có tài sản chung nên anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà: Chị M giữ nguyên toàn toàn bộ yêu cầu khởi kiện của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Về quan hệ hôn nhân: Xử tuyên bố không công nhận chị Đinh Thị M và anh Nguyễn Văn T là vợ chồng.

- Về con chung và tài sản chung: Không xem xét, giải quyết.

- Về án phí: Chị Đinh Thị M phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Anh Nguyễn Văn T là bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh T.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về yêu cầu xin ly hôn của chị M: Chị M và anh T tự nguyện về chung sống với nhau từ tháng 9/1995, có tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán của địa phương. Việc anh chị chung sống với nhau nhiều người đều biết. Anh chị đều trình bày không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật phù hợp với kết quả xác minh tại UBND xã L và Phòng tư pháp thành phố C. Nên, có đủ căn cứ xác định anh chị không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Do đó, hôn nhân giữa chị M và anh T là không hợp pháp, vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống, anh chị có thời gian dài hoà thuận, hạnh phúc có con chung sau đó xảy ra mâu thuẫn. Anh chị đã sống ly thân hơn 10 năm nay, không liên lạc và không quan tâm đến nhau. Nay, cả hai anh chị đều có yêu cầu ly hôn, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình để tuyên bố không công nhận chị M và anh T là vợ chồng.

[2.2] Về con chung: Các con chung của anh chị là Nguyễn Văn T, sinh ngày 20/4/1998 và Nguyễn Văn T, sinh ngày 12/12/2000 đều đã trên 18 tuổi, khỏe mạnh bình thường, chị M và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung: Chị M và anh T không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[2.4] Về án phí: Chị M là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sơ sơ thẩm ly hôn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận chị Đinh Thị M và anh Nguyễn Văn T là vợ chồng.

- Về con chung và tài sản chung: Không xem xét, giải quyết.

- Về án phí: Chị Đinh Thị M phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị M đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2017/0001238 ngày 28/02/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Chí Linh (nay là thành phố Chí Linh), tỉnh Hải Dương. Chị M đã nộp đủ án phí.

- Về quyền kháng cáo: Chị M có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.


32
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 07/2019/HNGĐ-ST ngày 28/05/2019 về ly hôn

Số hiệu:07/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chí Linh - Hải Dương
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 28/05/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về