Bản án 07/2018/HS-ST ngày 30/01/2018 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

BẢN ÁN 07/2018/HS-ST NGÀY 30/01/2018 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH ĐKPTGTĐB

Ngày 30 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở TAND huyện Phú Lương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 71/2017/TLST-HS, ngày 22 tháng 12 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 04/2018/QĐXXST–HS ngày 15 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:Triệu Văn H, sinh ngày 14/01/1987 tại Xóm K, xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Nơi đăng ký HKTT: Xóm K, xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tich: Việt Nam; con ông Triệu Đức L và bà Đoàn Thị T; có vợ là Hoàng Thị Đ và 01 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, tại ngoại tại địa phương; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Phạm Văn B, sinh năm 1967 (Đã chết).

- Người dại diện hợp pháp của bị hại: Bà Vũ Thị M, sinh năm 1970 (Vợ của bị hại).

Địa chỉ: Tiểu khu T, thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: Anh Nguyễn Duy H (Vắng mặt), chị Đặng Thị H (Có mặt), anh Dương Văn H (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 22 giờ 15 phút ngày 01/10/2017, tại Km 88+200Quốc lộ 3 Hà Nội – Cao Bằng, đoạn thuộc địa phận tiểu khu Tràng Học, thị trấn Đu, huyện Phú Lương, xảy ra vụ tai nạn giao thông, Triệu Văn H có giấy phép lái xe hạng A1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 20E1-153.86 dung tích trên 50 cm3  đi hướng Cao Bằng – Hà Nội đâm vào xe đạp do ông Phạm Văn B điềukhiển đi phía trước cùng chiều. Hậu quả ông B bị thương nặng được đưa đến Bệnh viện Đa khoa TW Thái Nguyên cấp cứu đến ngày 02/10/2017 thì chết, Triệu Văn H bị thương nhẹ, xe mô tô bị hư hỏng nhẹ, xe đạp bị hư hỏng nặng.

Khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn hồi 23 giờ 15 phút ngày 01/10/2017(thống nhất lấy mép đường bên phải hướng Cao Bằng đi Hà Nội, cột Km số 88+200m để xác định các vị trí dấu vết) thấy: Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường trải nhựa thẳng, phẳng, tầm nhìn không bị hạn chế, lòng đường rộng 10,9m, giữa đường có vạch sơn màu vàng kẻ đứt quãng chạy dọc suốt chiều đường, chia lòng đường thành 02 phần xe chạy riêng biệt. Xe mô tô BKS 20E1- 153.86 nằm đổ nghiêng bên trái xuống mặt đường, trên phần đường phải hướng Cao Bằng – Hà Nội, đầu xe quay hướng Hà Nội đuôi xe quay hướng Cao Bằng. Tâm trục bánh trước của xe mô tô nằm trùng sát với mép đường nhựa, đo vuông góc từ tâm trục bánh sau của xe mô tô đến mép đường nhựa là 0,4m. Xe đạp loại THỐNG NHẤT: nằm đổ nghiêng bên trái tại lề đường phải hướng Cao Bằng – Hà Nội, đầu xe quay hướng Hà Nội, đuôi xe quay hướng Cao Bằng. Đo vuông góc từ tâm trục bánh trước và tâm trục bánh sau xe đạp vào mép đường nhựa lần lượt là 1,8m và 1,3m. Đo vuông góc từ tâm trục bánh trước của xe đạp về phía Hà Nội đến tâm trục bánh sau của xe mô tô BKS 20E1 153.86 là 12,2m. Dấu vết: Hiện trường để lại 02 vết cà xước mặt đường dạng đứt quãng; vết thứ nhất: kích thước (17,5 x 0,01)m trên phần đường phải, chiều hướng Cao Bằng – Hà Nội. Đo vuông góc từ điểm đầu vết cà xước đến mép đường nhựa là 2m, điểm cuối vết cà xước trùng sát với đầu ngoài để chân trước bên trái xe mô tô BKS 20E1 – 153.86; vết thứ hai: kích thước (2,5 x 0,01)m trên phần đường phải, chiều hướng Cao Bằng – Hà Nội. Đo vuông góc từ điểm đầu vết cà xước đến mép đường nhựa phải là 0,7m, điểm cuối của vết cà xước trùng với mép đường nhựa phải. Tại vị trí mặt ngoài của cột tiêu bê tông ở dìa đường bên phải hướng Cao Bằng – Hà Nội có bám dính vết mài trượt màu đen kích thước (0,15 x 0,15)m chiều hướng Cao Bằng – Hà Nội. Đo từ điểm thấp nhất của vết này đến mặt đất là 0,45m, đo vuông góc từ tâm vết này về phía Cao Bằng đến tâm trục bánh trước của xe đạp là 0,4m. Đo vuông góc từ tâm trục bánh trước xe mô tô BKS 20E1 – 153.86 về hướng Hà Nội đến cột mốc Km 88 + 200 là 0,4m (BL 15-17, 50-53).

Khám phương tiện liên quan đến tai nạn: Xe mô tô loại Honda BKS 20E1-153.86  đăng ký mang tên Triệu Văn H, 01 giấy B hiểm trách nhiệm dân sự của xe có hiệu lực đến ngày 04/9/2018, 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Triệu Văn H do sở giao thông vận tải tỉnh Thái Nguyên cấp ngày 15/5/2007; ốp nhựa chân gương phía trước bên phải đầu xe bị bật rời khỏi vị trí; toàn bộ cụm ốp nhựa đèn pha chiếu sáng phía trước đầu xe giáp đồng hồ công tơ mét bị bật rời khỏi vị trí; mặt trước gương chiếu hậu bên trái bị trượt xước nhựa kích thước (12 x 6)cm chiều hướng từ trước về sau; mặt trước cần gương chiếu hậu bên trái đoạn gấp khúc bị trượt xước kim loại kích thước (4 x 0,3)cm chiều hướng từ trước về sau, từ trong ra ngoài; đầu ngoài tay lái bên trái bị trượt xước kim loại kích thước (4 x 0,3)cm chiều hướng từ trước về sau; ốp nhựa đèn xi nhan phía trước bên phải bị bật rời khỏi vị trí; mặt nạ phía trước bên trái bị nứt vỡ nhựa kích thước 10cm; mặt ngoài cánh yếm bên trái có vết trượt xước nhựa kích thước (5 x 2,5)cm chiều hướng từ trước về sau; mặt ngoài bên trái của đầu chắn bùn bánh trước bị trượt xước nhựa bong tróc sơn kích thước (18 x 4)cm chiều hướng từ trước về sau. Đo từ tâm vết này đến mặt đất là 56cm; vành bánh xe phía trước tại vị trí lốp bánh xe có chữ số “7019-17MIC38P” bị cong vênh biến dạng kích thước 13cm chiều hướng từ trước về sau. Đo từ tâm vùng cong vênh theo chiều kim đồng hồ đến vị trí chân van là 23cm; mép ngoài bên trái lốp bánh xe phía trước bị rách vỡ cao su kích thước (2 x 2)cm. Đo từ tâm vết này theo chiều kim đồng hồ đến vị trí chân van là 17cm; đầu ngoài để chân trước bên trái bị trượt xước cao su, đầu cốt kim loại của để chân bị trượt xước kích thước (4 x 2)cm chiều hướng từ trước về sau; mặt ngoài tay xách bên trái phía sau yên xe có vết mài trượt kim loại kích thước (3 x 0,5)cm chiều hướng từ trước về sau; hệ thống phanh, đèn, còi, xi nhan còn hiệu lực; lốp bánh trước hết hơi do tai nạn; lốp bánh sau còn hơi. Xe đạp loại Thống nhất: Không có giấy tờ; tay bóp phanh bên phải gắn ở tay lái bị đẩy lệch khỏi vị trí chiều hướng từ trước về sau; cổ phốt đầu xe bị đẩy lệch từ phải sang trái; mặt trong đầu ngoài tay lái bên trái bị trượt xước cao su kích thước (1,5 x 1,5)cm. Đầu ống tay lái này có bám dính đất; yên xe bị đẩy lệch về bên trái; gác ba ga (ghế ngồi phía sau) bị cong vênh biến dạng, bật rời các mối hàn; chắn bùn bánh sau bị cong vênh biến dạng; thanh khung càng xe phía sau bên phải gắn từ yên xe đến trục bánh sau bên phải bị cong vênh biến dạng chiều hướng từ phải sang trái, từ sau về trước; thanh gắn gác ba ga bên phải đến trục bánh sau bên phải bị cong vênh biến dạng chiều hướng từ sau về trước, từ phải qua trái; ốp B vệ xích xe bằng kim loại bên phải đoạn giáp bánh xe phía sau bị cong vênh biến dạng chiều hướng từ sau về trước, từ phải qua trái; đầu phía sau thanh khung xe phía dưới bên phải gắn từ trục chính đến trục bánh sau bên phải bị cong vênh biến dạng chiều hướng từ sau về trước, từ phải qua trái; thanh khung dưới bên trái từ trục chính đến trục bánh sau bên trái bị cong vênh biến dạng; chân chống gắn ở trục bánh sau bên trái có bám dính cỏ rác; vành bánh sau bị cong vênh biến dạng chiều hướng từ phải qua trái; một số nan hoa vành bánh sau bị bật gãy rời khỏi vị trí; đầu trục bánh sau bên phải bị đẩy lệch từ sau về trước, từ phải qua trái; phanh trước không có hiệu lực; phanh sau không kiểm tra được do xe bị hư hỏng sau tai nạn; hai lốp còn hơi (BL37-40).

Tại kết luận giám định pháp y tử thi số 1063 ngày 09/10/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Ông Phạm Văn B bị tai nạn giao thông gây tổn thương: đa chấn thương, dập vỡ gan, chảy mất máu cấp, sốc không hồi phục dẫn đến chết (BL36).

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 78/KL-ĐG ngày 09/10/2017 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Phú Lương kết luận: Thiệt hại tài sản của xe mô tô BKS 20E1 – 153.86 là 857.500 đồng, của xe đạp nhãn hiệu THỐNG NHẤT là 285.000 đồng (BL61).

Quá trình điều tra xác định: Khoảng 22 giờ 15 phút ngày 01/10/2017 H điều khiển xe mô tô BKS 20E1 – 153.86 đi theo đường Quốc lộ 3 hướng Cao Bằng – Hà Nội, khi đi đến Km 88 + 200, QL 3 đoạn thuộc địa phận tiểu khu Tràng Học, TT. Đu, huyện Phú Lương, H phát hiện ông Phạm Văn B điều khiển xe đạp đi phía trước cùng chiều. Lúc này H đi với tốc độ khoảng 60Km/h. H không bấm còi hay đèn xin vượt, không giảm tốc độ mà điều khiển xe định vượt phía bên phải xe đạp ông B. Khi xe mô tô của H đi đến gần xe đạp thì ông B điều khiển xe đạp đánh lái về bên phải theo chiều đi. Do khoảng cách quá gần, H không xử lý được, xe mô tô do H điều khiển đã đâm va vào phía sau bên phải của bánh sau xe đạp của ông B, làm xe đạp và ông B ngã văng ra lề đường phải, H và xe mô tô đổ lết trên mặt đường. Ông B bị thương nặng được đưa đến Bệnh viện Đa khoa TW Thái Nguyên cấp cứu đến ngày 02/10/2017 thì chết. H bị thương nhẹ, xe mô tô bị hư hỏng nhẹ, xe đạp bị hư hỏng nặng.

Quá trình điều tra H đã khai nhận hành vi phạm tội (BL80-99). Về phần dân sự: H đã thỏa thuận bồi thường xong cho gia đình nạn nhân số tiền 70.000.000 đồng, đại diện bị hại không có yêu cầu, đề nghị gì thêm và xin giảm nhẹ trách nhiệm cho H (BL68-71, 100-103). Các phương tiện liên quan đến vụ tai nạn xét không cần thiết tạm giữ, CQĐT đã trả cho đại diện bị hại và bị cáo H quản lý, sử dụng (BL64-65).

Bản cáo trạng số 02/KSĐT – TA ngày 22/12/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Triệu Văn H về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 Bộ Luật hình sự.

Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Triệu Văn H phạm tội: "Vi phạm quy định vể điều khiển phương tiện giao thông đường bộ". Đề nghị áp dụng khoản 1

Điều 202 điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 60 BLHS. Đề nghị xử phạt bị cáo Triệu Văn H từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho H án treo, thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Hai bên đã tự thỏa thuận bồi thường xong, đại diện bị hại không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.

Vật chứng: Xe mô tô và xe đạp Cơ quan điều tra đã trả cho chủ sở hữu.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận gì. Người đại diện cho người bị hại nhất trí với bản luận tội của Viện kiểm sát, giữ nguyên nội dung đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin lỗi gia đình người bị hại và xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được H án treo ở mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: [1]Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, cùng với những tài liệu đã thu thập được có trong hồ sơ như: Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường; Bản kết luận giám định pháp y tử thi, Biên bản khám nghiệm phương tiện đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy có thể xác định, hồi 22 giờ 15 phút ngày 01/10/2017 tại Km 88+200 Quốc lộ 3 Hà Nội – Cao Bằng, đoạn thuộc địa phận tiểu khu Tràng Học, thị trấn Đu, huyện Phú Lương, Triệu Văn H có Giấy phép lái xe hạng A1 điều khiển xe mô tô BKS 20E1 – 153.86 đi hướng Cao Bằng – Hà Nội, vượt xe đi cùng chiều sai quy định, đâm va vào xe đạp do ông Phạm Văn B điều khiển đi phía trước cùng chiều, hậu quả làm ông B chết, phương tiện là xe đạp hư hỏng.

Căn cứ hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn, dấu vết để lại trên phương tiện, lời khai của người làm chứng, bị cáo, đủ cơ sở xác định lỗi gây ra vụ tai nạn giao thông là do H điều khiển xe mô tô vi phạm khoản 4 Điều 14 Luật giao thông đường bộ quy định: “4. Khi vượt, các xe phải vượt về bên trái,...”. Như vậy, bị cáo đã vi phạm Luật giao thông đường bộ, hậu quả làm chết một người (ông Phạm Văn B) đối chiếu với quy định của pháp luật hình sự thì việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương truy tố bị cáo Triệu Văn H về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Khoản 1 Điều 202 của Bộ luật hình sự quy định như sau:

“1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng …của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm…”

[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét tính chất hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây hậu quả nghiêm trọng làm chết một người, hành vi đó còn gây mất trật tự an toàn công cộng. Vì vậy cần phải xử bị cáo một mức án nghiêm khắc mới đảm B được tính nghiêm minh của pháp luật và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; sau khi tai nạn xảy ra bị cáo đã chủ động khắc phục thiệt hại bồi thường cho gia đình người bị hại theo yêu cầu. Do đó, bị cáo được H các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, đại diện người bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo, do đó bị cáo được H thêm tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa bị cáo có xuất trình tài liệu xác nhận bị cáo có bác ruột là Liệt sỹ, tuy nhiên đây không được coi là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự.

Xét nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo xuất thân từ nhân dân lao động, là người chưa có tiền án, tiền sự, trong quá trình tham gia giao thông bị cáo đã chủ quan, điểu khiển phương tiện xe mô tô vượt sai quy định gây tai nạn.

Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, sau khi xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng cần thiết xử phạt bị cáo mức án từ 15 đến 18 tháng tù là phù hợp. Do bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; thiệt hại bị cáo gây ra đã có ý thức bồi thường toàn bộ theo yêu cầu của gia đình người bị hại; bị cáo là người có nơi cư trú rõ ràng, có đơn xin cải tạo tại địa phương được UBND xã nơi cư trú xác nhận đồng ý, do đó không cần thiết phải cách ly xã hội mà cho bị cáo được H án treo để cải tạo tại địa phương với thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng cũng đủ điều kiện để giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị HĐXX áp dụng hình phạt đối với bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho H án treo là phù hợp cần được chấp nhận. Không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[4] Về những vấn đề khác:

Về phần dân sự: Trong giai đoạn điều tra các bên đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại xong, tại phiên tòa phía bị hại không có yêu cầu bồi thường, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về vật chứng: Xe mô tô BKS 20E1 – 153.86 và xe đạp hiệu THỐNG NHẤT, cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án thì trong vụ án này bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 202, điểm p, b khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 60 của Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009; Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Luật Phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án

Tuyên bố: Bị cáo Triệu Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

1. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Triệu Văn H 15 (Mười lăm) tháng tù cho H án treo, thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm  (30/01/2018).Giao bị cáo Triệu Văn H cho UBND xã P, huyện P giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được H án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

2. Án phí: Buộc bị cáo Triệu Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.

3. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.


58
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về