Bản án 07/2018/HNGĐ-ST ngày 18/04/2018 về tranh chấp chia tài sản sau ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 07/2018/HNGĐ-ST NGÀY 18/04/2018 VỀ TRANH CHẤP CHIA TÀI SẢN SAU LY HÔN

Trong các ngày 16 và 18 tháng 4 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 14/2017/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2017 và thụ lý bổ sung ngày 13/06/2017 về việc: “Tranh chấp chia tài sản sau ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2018/QĐXX-ST ngày 04/4/2018 giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Chị Ngô Thị V, sinh năm 1971. (có mặt tại phiên tòa)

* Bị đơn: Anh Trần Minh H, sinh năm 1965 (có mặt tại phiên tòa)

* Người đại diện theo pháp luật của anh Trần Minh H:

Bà Đỗ Thị T, sinh năm 1932 tên gọi khác Đỗ Thị Sích (có mặt tại phiên tòa)

Đều trú tại: Thôn Y, L, huyện C, tỉnh Bắc Ninh.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Đỗ Thị T, sinh năm 1932 tên gọi khác Đỗ Thị S (có mặt tại phiên tòa)

2. Anh Trần Minh T, sinh năm 1954 (vắng mặt tại phiên tòa)

3. Chị Trần Thị L, sinh năm 1973 (vắng mặt tại phiên tòa)

Đều trú tại: Thôn Y, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Ninh.

4. Chị Trần Thị Huy, sinh năm 1957

Trú tại: Thôn B, xã P, huyện T, tỉnh Lào Cai (vắng mặt tại phiên tòa)

5. Chị Trần Thị H, sinh năm 1963

Trú tại: Thôn H, xã P, huyện T, tỉnh Hà Nam (vắng mặt tại phiên tòa)

6. Chị Trần Thị T, sinh năm 1967

Trú tại: Số nhà 19, ngõ 346, phố T, phường H, quận T, thành phố Hải Phòng (vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa, chị Ngô Thị V và anh Trần Minh H thống nhất trình bày: Chị Ngô Thị V kết hôn với anh Trần Minh H vào năm 1991 trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã L. Trong quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được nên đã được Tòa án nhân dân huyện C và Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh giải quyết cho vợ chồng được ly hôn từ năm 2014. Tuy nhiên sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, chị Ngô Thị V không đồng ý với phần phân chia tài sản của bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm nên chị đã nộp đơn khiếu nại đến Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội. Ngày 18 tháng 5 năm 2016 Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã mở phiên tòa giám đốc thẩm hủy quyết định về phần tài sản của bản án hôn nhân và gia đình phúc thẩm số 05/2014/DSPT ngày 25/11/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh và quyết định về phần tài sản của bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 05/2014/HNGĐ-ST ngày 01/7/2014 của Tòa án nhân dân huyện C. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra chị Ngô Thị V trình bày: Sau khi kết hôn với anh Trần Minh H, bố mẹ anh H đã tuyên bố cho vợ chồng thửa đất số 194, tờ bản đồ số 10 có diện tích 385m2 nhưng diện tích thực tế là 428m2 nằm tại thôn Y, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Ninh. Việc cho này chỉ nói miệng, không có giấy tờ gì và thửa đất này hiện tại vẫn mang tên ông Trần Văn T chưa sang tên cho vợ chồng. Năm 2003 vợ chồng xây dựng 01 ngôi nhà 04 gian, trong đó 03 gian ngoài lợp ngói, gian buồng đổ trần tầng 1, tầng 02 lợp ngói, bếp, sân gạch, sân gạch phía dưới, bể nước, khu chăn nuôi, kè bờ ao, cổng sắt. Đồ dùng sinh hoạt trong gia đình gồm 02 giường đôi gỗ lim, 01 bộ salonnan, còn một số tài sản lặt vặt có giá trị thấp nên chị không kê khai. Nay chị đề nghị Tòa án phân chia toàn bộ khối tài sản trên theo quy định của pháp luật và đề nghị chia đất để chị có chỗ ở.

* Về công nợ: Trong thời kỳ ly thân chị và anh H đã thỏa thuận anh H có trách nhiệm trả nợ ông Trần Văn T 9.000.000đ, trả nợ chị H 5.000.000đ. Chị có trách nhiệm trả chị Trần Thị H 2.000.000đ, trả chị Trần Thị T 3.000.000đ, trả chị Trần Thị L 2.000.000đ và trả chị Ngô Thị L 3.000.000đ. Nay các bên đã thanh toán xong nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Đối với khoản nợ Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn - Chi nhánh huyện C 8.000.000đ anh H vay thì anh H phải có trách nhiệm trả, chị không liên quan đến khoản nợ này.

Anh Trần Minh H do bà Đỗ Thị T đại diện trình bày: Xác nhận lời trình bày của chị Ngô Thị V về các công trình xây dựng trên đất và đồ dùng sinh hoạt của vợ chồng như chị V đã trình bày là đúng và đề nghị phân chia số tài sản này theo quy định của pháp luật. Còn thửa đất số 194, tờ bản đồ số 10 có diện tích 385m2 nhưng diện tích thực tế là 428m2 nằm tại thôn Y, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Ninh là của ông Trần Văn T và bà Đỗ Thị T. Ông T, bà T vẫn chưa cho ai nên chị V không có quyền đề nghị chia.

Về công nợ: Trước khi ly thân vợ chồng còn nợ ông Trần Văn T 9.000.000đ, nợ chị Huy 5.000.000đ và nợ Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn - Chi nhánh huyện C 8.000.000đ. Khi thỏa thuận thuận tình ly hôn năm 2008 trách nhiệm trả các khoản nợ này được giao cho anh và anh đã trả xong nên đề nghị Tòa án trừ đi khi phân chia tài sản chung của vợ chồng.

Về công sức: Chị Ngô Thị V và anh Trần Minh H do bà Đỗ Thị T đại diện trình bày: Anh, chị không đóng góp công sức gì vào việc tân tạo thửa đất trên nên không yêu cầu Tòa án trích chia công sức trong việc tân tạo. Ngoài ra chị Viện trình bày: Chị có thời gian dài sinh sống trên thửa đất đó nên chị đề nghị Tòa án xem xét công sức của chị trong việc trông nom, quản lý thửa đất đó theo quy định của pháp luật, còn anh Trần Minh H không yêu cầu.

Về ruộng nông nghiệp: Chị Ngô Thị V và anh Trần Minh H do bà Đỗ Thị T đại diện đã tự phân chia nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Đỗ Thị T trình bày: Thửa đất số 194, tờ bản đồ số 10, có diện tích 385m2 nhưng diện tích thực tế là 428m2 nằm tại thôn Y, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Ninh được địa phương cấp cho vợ chồng ông bà vào năm 1979, sau khi được cấp vợ chồng ông bà xây nhà và các công trình phụ trên đất. Năm 2003 do các công trình xây dựng đã xuống cấp nên vợ chồng anh H bàn với vợ chồng bà phá nhà cũ đi để xây lại mới, vợ chồng bà đồng ý để vợ chồng anh H, chị V xây lại nhà mới, vật liệu tận dụng được một số đồ cũ gồm gạch, ngói, xà gồ, đòn tay của nhà cũ để làm nhà mới. Còn tiền thì vợ chồng bà không đóng góp. Thửa đất này vẫn nguyên hiện trạng của vợ chồng bà, anh H chị V không tân tạo thêm gì. Nay bà xác định thửa đất trên là của vợ chồng bà vì từ trước đến nay vợ chồng bà chưa tuyên bố cho ai. Giá trị các vật liệu mà vợ chồng anh H, chị V tận dụng được khi làm nhà bà không yêu cầu trả lại.

Anh Trần Minh T, chị Trần Thị L, chị Trần Thị H, chị Trần Thị H và chị Trần Thị T trình bày: Thửa đất số 194, tờ bản đồ số 10, có diện tích 385m2 nhưng diện tích thực tế là 428m2 nằm tại thôn Y, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Ninh là của ông Trần Văn T và bà Đỗ Thị T, từ trước đến nay ông T, bà T chưa tuyên bố cho ai nếu cho thì đã họp gia đình và mọi người trong gia đình phải ký vào văn bản đó. Nay chị V xác định thửa đất trên đã được ông T, bà T cho vợ chồng anh chị thì chị V phải đưa ra giấy tờ để chứng minh là ông T, bà T đã cho nếu không xuất trình được thì đề nghị Tòa án căn cứ pháp luật giải quyết.

Anh T, chị L, chị H, chị H, chị T đều xác định: Các anh, chị không đóng góp công sức gì vào thửa đất trên và cũng không đóng góp công sức gì vào khối tài sản trên đất của anh H, chị V nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Việc Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền và thời hạn theo quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ, điều tra xác minh và ra các văn bản tố tụng, cũng như các thủ tục tố tụng tại phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng các quy định của pháp luật.

Về điều luật áp dụng: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 35; 39; 147; 149; khoản 1, Điều 228; Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 95, 96 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (nay là Điều 59, Điều 61 Luật HNGĐ năm 2014); Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu chia tài sản sau ly hôn của chị Ngô Thị V.

Xác nhận khối tài sản chung của anh H, chị V gồm: 01 ngôi nhà 04 gian, trong đó 03 gian ngoài lợp ngói, gian buồng đổ trần tầng 1, tầng 02 lợp ngói, bếp, sân gạch, sân gạch phía dưới, bể nước, khu chăn nuôi, kè bờ ao, cổng sắt, 02 giường đôi gỗ lim, 01 bộ salonnan có giá trị 42.500.000đ nhưng phải trừ khoản nợ chung của vợ chồng là 22.000.000đ. Còn lại là 20.500.000đ.

Buộc bà Đỗ Thị T phải trích trả chị Ngô Thị V từ 5.000.000đ đến 10.000.000đ tiền công sức trong việc trông nom, quản lý tài sản nhưng được trả bằng quyền quản lý và sử dụng từ 80m2 đến 85m2 đất của thửa đất số 194, tờ bản đồ số 10 tại thôn Y, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Ninh và sở hữu các tài sản trên phần đất được chia nhưng chị V có nghĩa vụ trích trả bà Đỗ Thị T tiền chênh lệch về đất. Anh H được sở hữu toàn bộ tài sản trên phần đất còn lại của thửa đất số 194, tờ bản đồ số 10 tại thôn Y, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Ninh cùng đồ dùng sinh hoạt trong gia đình gồm 01 bộ salongnan, 02 giường đôi gỗ lim nhưng phải trả chị V tiền chênh lệch tài sản theo biên bản định giá tài sản.

Về án phí: Do anh H bị bệnh tâm thần đã được Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự và hiện tại là hộ cận nghèo của địa phương nên đề nghị HĐXX miễn nộp tiền án phí cho anh H. Còn chị Viện phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Thửa đất số 194, tờ bản đồ số 10, có diện tích 385m2 nhưng diện tích thực tế là 428m2 (trong đó đất ở là 240m2, đất vườn 188m2) nằm tại thôn Y, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Ninh đã được UBND huyện C cấp cho hộ ông Trần Văn T vào ngày 18/12/2000. Ông Trần Văn T chết vào năm 2011 nên Tòa án đã đưa những người ở hàng thừa kế thứ nhất của ông Trần Văn T gồm: Bà Đỗ Thị T, anh Trần Minh T, chị Trần Thị L, chị Trần Thị H, chị Trần Thị H và chị Trần Thị T vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật.

Anh Trần Minh H là bị đơn trong vụ án, do anh H bị hạn chế năng lực hành vi dân sự nên Tòa án đã cử bà Đỗ Thị T là mẹ đẻ anh H làm người đại diện theo pháp luật cho anh H để tham gia tố tụng tại Tòa án nên bà Đỗ Thị T tham gia tố tụng với 02 tư cách vừa là người đại diện theo pháp luật cho anh H, vừa là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật.

Anh Trần Minh T, chị Trần Thị L, chị Trần Thị H, chị Trần Thị H và chị Trần Thị T là những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng các đương sự đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên là phù hợp với khoản 1, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Tại phiên tòa hôm nay chị Ngô Thị V vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án xác nhận tài sản chung của vợ chồng gồm: Thửa đất số 194, tờ bản đồ số 10 có diện tích 385m2 nhưng diện tích thực tế là 428m2 nằm tại thôn Y, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Ninh, trên đất có 01 ngôi nhà 04 gian, trong đó 03 gian ngoài lợp ngói, gian buồng đổ trần tầng 1, tầng 02 lợp ngói, bếp, sân gạch, sân gạch phía dưới, bể nước, khu chăn nuôi, kè bờ ao, cổng sắt. Đồ dùng sinh hoạt gồm 02 giường đôi gỗ lim, 01 bộ salonnan. Chị đề nghị chia toàn bộ khối tài sản trên theo quy định của pháp luật và đề nghị chia đất để chị có chỗ ở. Anh Trần Minh H do bà Đỗ Thị T đại diện và tất cả những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều xác định tài sản trên đất và đồ dùng sinh hoạt trong gia đình là tài sản chung của anh H và chị V như chị V đã trình bày là đúng và đề nghị chia theo quy định của pháp luật. Còn thửa đất số 194, tờ bản đồ số 10 có diện tích 385m2 nhưng diện tích thực tế là 428m2 nằm tại thôn Y, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Ninh là của ông T, bà T. Như vậy các đương sự đã thống nhất được tài sản chung của anh H, chị Viện gồm: 01 ngôi nhà 04 gian, trong đó 03 gian ngoài lợp ngói, gian buồng đổ trần tầng 1, tầng 02 lợp ngói, bếp, sân gạch, sân gạch phía dưới, bể nước, khu chăn nuôi, kè bờ ao, cổng sắt. Đồ dùng sinh hoạt gồm 02 giường đôi gỗ lim, 01 bộ salonnan và đều đề nghị chia theo quy định của pháp luật. Riêng thửa đất số 194, tờ bản đồ số 10 có diện tích 385m2 nhưng diện tích thực tế là 428m2 nằm tại thôn Y, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Ninh có tranh chấp. Hội đồng xét xử xét thấy để xác định thửa đất trên thuộc quyền quản lý, sử dụng của ai phải căn cứ vào nguồn gốc và các giấy tờ xác lập quyền sử dụng đất thì thấy: Thửa đất số 194, tờ bản đồ số 10 có diện tích thực tế 428m2 nằm tại thôn Y, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Ninh được địa phương cấp cho hộ ông Trần Văn T vào trước năm 1980. Sau khi được cấp thì ông T, bà T xây dựng nhà cửa sinh sống trên thửa đất đó. Năm 2000 thửa đất trên được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Trần Văn T và từ đó đến nay vẫn mang tên hộ ông Trần Văn T trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2011 ông T mất thì bà T vẫn ở trên thửa đất đó, hàng năm bà T vẫn đóng thuế cho Nhà nước đầy đủ. Nay anh Trần Minh H do bà Đỗ Thị T đại diện và tất cả những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gồm bà Đỗ Thị T, anh Trần Minh Thắng, chị Trần Thị L, chị Trần Thị H, chị Trần Thị H và chị Trần Thị T đều xác định thửa đất trên được địa phương cấp cho ông Trần Văn T và bà Đỗ Thị T vào năm 1979. Tại biên bản làm việc ngày 19 tháng 3 năm 2018 giữa Tòa án và UBND xã L thì phía UBND xã L cho biết thửa đất trên được địa phương cấp cho hộ ông Trần Văn T vào trước năm 1980 và cấp cho tiêu chuẩn của những ai thì địa phương không nắm được vì hồ sơ cấp đất thời kỳ đó không còn lưu giữ. Do vậy có đủ căn cứ để xác định thửa đất số 194, tờ bản đồ số 10 có diện tích thực tế 428m2 nằm tại thôn Y, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Ninh được địa phương cấp cho ông Trần Văn T và bà Đỗ Thị T. Quá trình Tòa án thu thập chứng cứ và tại phiên tòa chị Ngô Thị V trình bày: Khi còn sống ông Trần Văn T đã tuyên bố cho vợ chồng chị thửa đất trên nhưng chỉ nói miệng và có sự chứng kiến của ông Tịnh và chị H, chứ không có giấy tờ gì. Nay ông T đã chết, còn chị H thì khẳng định không có việc ông T cho vợ chồng anh chị thửa đất này. Mặc dù chị Ngô Thị V trình bày như vậy, song chị không đưa ra được chứng cứ gì để chứng minh cho yêu cầu của mình nên không có căn cứ để xác định thửa đất số 194, tờ bản đồ số 10 có diện tích thực tế 428m2 nằm tại thôn Y, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Ninh là tài sản chung của chị V và anh H.

Về công nợ: Chị V trình bày: Trong thời kỳ ly thân chị và anh H đã thỏa thuận anh H có trách nhiệm trả nợ ông Trần Văn T 9.000.000đ, trả nợ chị H 5.000.000đ. Chị có trách nhiệm trả chị Trần Thị H 2.000.000đ, trả chị Trần Thị T 3.000.000đ, trả chị Trần Thị L 2.000.000đ và trả chị Ngô Thị L 3.000.000đ. Nay các bên đã thanh toán xong nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Đối với khoản nợ Ngân hàng A - Chi nhánh huyện C 8.000.000đ anh H vay riêng thì anh H phải có trách nhiệm trả. Còn anh H thì trình bày: Trước khi ly thân vợ chồng còn nợ ông Trần Văn T 9.000.000đ, nợ chị H 5.000.000đ và nợ Ngân hàng A - Chi nhánh huyện C 8.000.000đ. Khi thỏa thuận thuận tình ly hôn năm 2008 anh và chị V đã thỏa thuận anh có trách nhiệm trả các khoản nợ này và trả tiền chênh lệch tài sản cho chị V 25.000.000đ để anh được sở hữu toàn bộ tài sản trên đất và anh đã trả xong nên đề nghị Tòa án trừ đi khi phân chia tài sản chung của vợ chồng. Hội đồng xét xử xét thấy: Năm 2008 anh H và chị Viện khai nợ ông Trần Văn T 9.000.000đ, nợ chị H 5.000.000đ và nợ Ngân hàng A - Chi nhánh huyện C 8.000.000đ, ngoài ra không còn khoản nợ nào khác. Tại phiên hòa giải ngày 25/3/2018 chị V trình bày: Việc vay mượn giữa vợ chồng chị với chị H, chị T, chị L và chị L chỉ thỏa thuận bằng miệng không có giấy tờ gì. Chị H và chị T thì trình bày từ trước đến nay các chị không cho vợ chồng anh H, chị V vay đồng nào. Chị L trình bày: Trước đây chị có cho vợ chồng anh H, chị V vay 2.000.000đ nhưng vợ chồng anh chị đã trả trước khi ly hôn. Tại phiên tòa chị V lại trình bày: Chị đã trả các khoản nợ trên trong lúc hôn nhân đang tồn tại. Do vậy có đủ căn cứ để xác định trước đây anh H, chị Viện nợ ông Trần Văn T 9.000.000đ, nợ chị Huy 5.000.000đ và nợ Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn - Chi nhánh huyện C 8.000.000đ. Nay anh H đã trả xong các khoản nợ này và nộp 25.000.000đ vào Chi cục Thi hành án dân sự huyện C để trả chị V nên khi phân chia tài sản phải trừ các khoản nợ mà anh H đã trả là phù hợp với quy định của pháp luật.

Xét công sức trong khối tài sản chung của vợ chồng thì thấy anh H và chị V có công sức ngang nhau nên chia cho mỗi người 01 nửa. Theo biên bản định giá tài sản ngày 04/4/2018 thì khối tài sản chung của anh H và chị V có giá trị 42.500.000đ - 22.000.000đ (tiền nợ chung của vợ chồng mà anh H đã trả) = 20.500.000đ: 2 người = 10.250.000đ (Mười triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng)

Trong quá trình Tòa án thu thập chứng cứ anh Trần Minh H do bà Đỗ Thị T đại diện và chị Ngô Thị V đều trình bày: Anh, chị không đóng góp công sức gì trong việc tân tạo thửa đất số 194, tờ bản đồ số 10 có diện tích thực tế 428m2 nằm tại thôn Y, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Ninh nên không yêu cầu Tòa án trích chia công sức trong việc tân tạo thửa đất đó. Tuy nhiên chị V có thời gian dài ở trên thửa đất đó (từ năm 1991 đến năm 2007). Nay chị yêu cầu xem xét công sức của chị trong việc trông nom, quản lý thửa đất đó theo quy định của pháp luật. Còn anh Trần Minh H do bà Đỗ Thị T đại diện không yêu cầu. Do vậy cần trích chia cho chị Ngô Thị V 5.000.000đ tiền công sức trong việc trông nom, quản lý thửa đất trên là phù hợp với quy định của pháp luật. Nay chị V không có chỗ ở nào và đang phải đi ở nhờ nên có nguyện vọng xin được trích chia công sức bằng đất để có chỗ ở ổn định. Xét thấy đề nghị trên là chính đáng và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Để không làm ảnh hưởng đến các công trình xây dựng trên đất nên trích chia cho chị Ngô Thị V 97m2 đất (trong đó 61m2 đất ở và 36m2 đất vườn) nằm ở phía đông của thửa đất số 194, tờ bản đồ số 10 tại thôn Y, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Ninh có các chiều tứ cận như sau:

- Phía đông giáp thửa đất của anh Trần Minh T dài 21,65m.

- Phía tây giáp phần đất còn lại của thửa đất số 194, tờ bản đồ số 10 tại thôn Y, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Ninh dài 22,81m.

- Phía nam giáp đường xóm dài 4,4m

- Phía bắc giáp mương của thôn dài 4,4m (giá trị đất = 47.477.000đ)

Và được sở hữu các tài sản trên phần đất được chia gồm: 02 gian công trình phụ, bể nước, cổng sắt, phần sân gạch phía dưới nằm trong phần đất được chia, 4,4m kè bờ ao trong phần đất được chia (giá trị tài sản trên đất = 3.521.000đ)(có sơ đồ kèm theo). Anh H được sở hữu 01 ngôi nhà 04 gian, trong đó 03 gian ngoài lợp ngói, gian buồng đổ trần tầng 01, tầng 02 lợp ngói, 01 sân gạch, phần sân gạch phía dưới còn lại, 02 gian công trình phụ, 02 giường đôi gỗ lim, 01 bộ salongnan, tường bao, phần kè bờ ao còn lại nằm trong phần đất còn lại của thửa đất số 194, tờ bản đồ số 10 tại thôn Y, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Ninh.

Do phần đất của chị V được chia có giá trị 47.477.000đ nên chị Viện phải trả lại bà Đỗ Thị T 42.477.000đ tiền chênh lệch đất. Phần tài sản trên đất của chị Viện được chia có giá trị 3.521.000đ nên anh H phải trả chị Viện 6.729.000đ tiền chênh lệch tài sản.

Về ruộng nông nghiệp: Anh H, chị V không đề nghị Tòa án giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét.

* Về chi phí định giá tài sản và xem xét thẩm định tại chỗ: Chị V và anh H phải chịu 500.000đ tiền chi phí định giá tài sản và xem xét thẩm định tại chỗ. Xác nhận chị V đã nộp 500.000đ tại Tòa án nên anh H phải có trách nhiệm trả lại chị Viện 250.000đ

Do anh Nguyễn Minh H đã nộp 25.000.000đ vào Chi cục Thi hành án dân sự huyện C theo biên lai thu số: BN/2010/004554 ngày 10 tháng 01 năm 2011 nên được khấu trừ để trả chị V 6.729.000đ tiền chênh lệch tài sản và 250.000đ tiền chi phí định giá tài sản và xem xét thẩm định tại chỗ.

- Chị Ngô Thị V được nhận 6.979.000đ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Hoàn trả lại anh Trần Minh H do bà Đỗ Thị T đại diện số tiền 18.021.000đ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.

* Về án phí: Năm 2016 chị Ngô Thị V là hộ cận nghèo và đơn trình bày hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, bản thân thường xuyên ốm đau, bệnh tật, không có thu nhập có xác nhận của chính quyền địa phương nên được Tòa án ra Quyết định miễn nộp tiền tạm ứng án phí nhưng năm 2018 chị Ngô Thị V không thuộc diện nghèo và cận nghèo của địa phương nên chị Ngô Thị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Anh Trần Minh H bị bệnh tâm thần đã được Tòa án tuyên bố bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và hiện tại là hộ cận nghèo của địa phương nên thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí. Do vậy miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm cho anh H là phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 35; 39; 147; 149; khoản 1, Điều 228; Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 95, 96 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (nay là Điều 59, Điều 61 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014); Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu chia tài sản sau ly hôn của chị Ngô Thị V.

Xác nhận khối tài sản chung của anh H và chị V gồm: 01 ngôi nhà 04 gian, trong đó 03 gian ngoài lợp ngói, gian buồng đổ trần tầng 1, tầng 02 lợp ngói, bếp, sân gạch, sân gạch phía dưới, bể nước, khu chăn nuôi, kè bờ ao, cổng sắt, 02 giường đôi gỗ lim, 01 bộ salonnan. Tổng giá trị tài sản là 42.500.000đ nhưng phải trừ khoản nợ chung của vợ chồng là 22.000.000đ. Còn lại là 20.500.000đ.

Buộc bà Đỗ Thị T phải trích trả chị Ngô Thị V 5.000.000đ tiền công sức nhưng được trả bằng quyền quản lý và sử dụng 97m2 đất (trong đó 61m2 đất ở và 36m2 đất vườn) nằm ở phía đông của thửa đất số 194, tờ bản đồ số 10 tại thôn Y, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Ninh có các chiều tứ cận như sau:

- Phía đông giáp thửa đất của anh Trần Minh T dài 21,65m.

- Phía tây giáp phần đất còn lại của thửa đất số 194, tờ bản đồ số 10 tại thôn Y, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Ninh dài 22,81m.

- Phía nam giáp đường xóm dài 4,4m

- Phía bắc giáp mương của thôn dài 4,4m (đất được chia giá trị 47.477.000đ)

Và được sở hữu các tài sản trên phần đất được chia gồm: 02 gian công trình phụ, bể nước, cổng sắt, phần sân gạch phía dưới nằm trong phần đất được chia, 4,4m kè bờ ao nằm trong phần đất được chia (có giá trị 3.521.000đ) nhưng chị Ngô Thị V phải trả bà Đỗ Thị T 42.477.000đ tiền chênh lệch đất. Anh Trần Minh H do bà Đỗ Thị T đại diện được sở hữu 01 ngôi nhà 04 gian, trong đó 03 gian ngoài lợp ngói, gian buồng đổ trần tầng 01, tầng 02 lợp ngói, 01 sân gạch, phần sân gạch phía dưới còn lại, tường bao, 02 gian công trình phụ, 02 giường đôi gỗ lim, 01 bộ salongnan, phần kè bờ ao còn lại nằm trong phần đất còn lại của thửa đất số 194, tờ bản đồ số 10 tại thôn Y, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Ninh (có sơ đồ kèm theo) nhưng anh Trần Minh H do bà Đỗ Thị T đại diện phải trả chị Ngô Thị V 6.729.000đ tiền chênh lệch tài sản và 250.000đ tiền chi phí định giá tài sản và xem xét thẩm định tại chỗ. Tổng cộng là 6.979.000đ (Xác nhận anh Trần Minh H đã nộp 25.000.000đ theo biên lai thu số: BN/2010/004554 ngày 10 tháng 01 năm 2011 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C).

Chị Ngô Thị V được nhận 6.979.000đ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Hoàn trả lại anh Trần Minh H do bà Đỗ Thị T đại diện số tiền 18.021.000đ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì người đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1, Điều 468 của Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2, Điều 468 của Bộ luật này.

Về án phí:

- Chị Ngô Thị V phải chịu 512.500đ án phí dân sự sơ thẩm

- Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho anh Trần Minh H.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết hoặc nhận được tống đạt bản án./.


68
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 07/2018/HNGĐ-ST ngày 18/04/2018 về tranh chấp chia tài sản sau ly hôn

Số hiệu:07/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Quế Võ - Bắc Ninh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:18/04/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về