Bản án 07/2018/HNGĐ-ST ngày 10/01/2018 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 07/2018/HNGĐ-ST NGÀY 10/01/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 10/01/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 1191/2017/TLST-HNGĐ ngày 21/11/2017 về việc “Ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 393/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/12/2017 và quyết định hoãn phiên tòa số 167/2017/QĐST-HNGĐ ngày 28/12/2017, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1968. Địa chỉ: Ấp N, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1963.

Địa chỉ: Ấp H, xã K, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Tạm trú: Ấp N, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.

(Bà H có mặt, ông T vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn ngày 24/10/2017 và những lời khai tiếp theo bà Nguyễn Thị H trình bày:

Bà và ông Nguyễn Văn T chung sống với nhau vào năm 2005, không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng về sau thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân bà H cho rằng quá trình chung sống bà và ông T bất đồng quan điểm, ông T không lo chí thú làm ăn và còn thường xuyên đánh đập bà. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà xin ly hôn.

Về con chung: Bà H khai quá trình chung sống bà và ông T có 01 con chung là cháu Nguyễn Minh T, sinh ngày 16/6/2006. Hiện con đang sống với bà. Khi ly hôn, bà H xin được quyền trực tiếp nuôi con, không yêu cầu ông T cấp dưỡng.

Về tài sản: Bà H khai bà và ông T không có tài sản chung và cũng không có nợ ai.

Đối với ông Nguyễn Văn T, Tòa án thụ lý vụ án có tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, giấy triệu tập nhưng ông T không đến Tòa, không có ý kiến phản hồi gì đối với yêu cầu khởi kiện của bà H.

Tại phiên tòa, bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai công khai tại phiên toà, trên cơ sở trình bày của đương sự, qua thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về tố tụng,

Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng trong đó có quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Nguyễn Văn T vẫn vắng mặt nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tiến hành đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm theo thủ tục chung là đúng với quy định tại các điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung,

Theo bà H trình bày thì bà và ông Nguyễn Văn T chung sống với nhau vào năm 2005 nhưng không có đăng ký kết hôn. Ủy ban nhân dân xã T cũng có văn bản xác nhận là bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn T có chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2005 đến nay nhưng không có đăng ký kết hôn. Việc bà H và ông T chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn là trái với quy định tại Điều 11, 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và Điều 09 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị H xin ly hôn nhưng do cả hai sống chung với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng nên Tòa án phải áp dụng Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để tuyên không công nhận bà H và ông T là quan hệ vợ chồng.

Về con chung: Bà H khai bà và ông T có 01 con chung là cháu Nguyễn Minh T, sinh ngày 16/6/2006; hiện con đang sống với bà. Khi ly hôn bà H xin được quyền trực tiếp nuôi con.

Thấy rằng, cháu Nguyễn Minh T hiện đã đủ 07 tuổi, tại bản tự khai cháu cũng có nguyện vọng sống với bà H khi bà và ông T ly hôn. Do vậy, Hội đồng xét xử giao cháu T cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp với nguyện vọng của cháu và phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng: Bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản: Bà H khai quá trình chung sống bà và ông T không có tài sản chung, không có nợ ai.

Ông Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên tòa, không có ý kiến gì phản hồi về tài sản và nợ trong thời gian chung sống. Trường hợp ông T phát sinh tranh chấp về tài sản trong thời gian chung sống thì có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác nếu có căn cứ.

[3]. Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước là đúng quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các điều 28, 35, 39, 63, 222, 225, 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các điều 14, 15, 80, 81, 82, 83, 84, 85 và 86 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

Không công nhận bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn T là quan hệ vợ chồng.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị H được quyền tiếp tục nuôi con chung là cháu Nguyễn Minh T, sinh ngày 16/6/2006.

Ông Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con vì bà Nguyễn Thị H không yêu cầu.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức hoặc cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

Về án phí:

Bà Nguyễn Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước nhưng được chuyển từ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001566 ngày 24/10/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, sang án phí để thi hành.

Án xử sơ thẩm và tuyên án công khai, nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn ông Nguyễn Văn T vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.


84
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 07/2018/HNGĐ-ST ngày 10/01/2018 về ly hôn

Số hiệu:07/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đức Hòa - Long An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 10/01/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về