Bản án 07/2018/HNGĐ-ST ngày 08/02/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 07/2018/HNGĐ-ST NGÀY 08/02/2018 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 08 tháng 02 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 457/2017/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2017 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị M, sinh năm: 1989;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Đồng Nai.

Chỗ ở hiện nay: tổ 27, khu phố M, phường N, thành phố P, tỉnh Đồng Nai.

2. Bị đơn: Anh Võ Thành C, sinh năm: 1981;

Nơi cư trú: Số nhà 55, ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Đồng Nai. (Chị M có mặt, anh C xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện, lời khai khác có tại hồ sơ và phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị M trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh C tự nguyện tìm hiểu và sống chung với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân An, huyện Vĩnh Cửu và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 120 quyền số 1 cấp ngày 16/12/2009. Anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn , do anh C ra ngoài có người phụ nữ khác, thường xuyên chơi cờ bạc gây nợ nần để chủ nợ phải đến nhà đòi nhiều lần. Từ đó thường xuyên kiếm chuyện chửi bới, đánh đập chị và đuổi chị ra kh ỏi nhà nhưng chị vẫn tha thứ và bỏ qua. Nhưng đến ngày 27/7/2017, anh C lại kiếm chuyện chửi bới, đánh đập chị, đuổi chị ra khỏi nhà. Từ đó anh chị sống ly thân cho đến nay. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị làm đơn này yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh C .

- Về con chung: Chị và anh C có 01 con chung tên Võ Ngọc Mai P, sinh ngày 17/4/2011. Hiện nay con chung đang sống với chị. Nếu ly hôn chị xin được nuôi con chung và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay chị đang làm công nhân công ty thu nhập từ 8.000.000 đồng – 9.000.000 đồng/tháng, đủ điều kiện nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: anh chị tự thỏa thuận, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Võ Thành C trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Trong quá trình chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống dẫn đến chị M bỏ về phường Trảng Dài sống 6 – 7 tháng nay. Vợ chồng anh chị đã không gặp nhau 2 – 3 tháng nay. Nay qua yêu cầu xin ly hôn của chị M thì anh đồng ý.

- Về con chung: Anh và chị M có 01 con chung tên Võ Ngọc Mai P, sinh ngày 17/4/2011. Nếu ly hôn anh đồng ý giao con chung cho chị M chăm sóc, nuôi dưỡng và tạm thời anh không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầuTòa án giải quyết.

Do bận công việc nên anh xin vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tạiTòa án.

* Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu tại phiên tòa sơ thẩm:

- Về thủ tục tố tụng:

+ Về quan hệ pháp luật và tư cách đương sự: Tòa án xác định là đúng và đầy đủ;

+ Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền;

+ Về thời hạn giải quyết vụ án: Tòa án giải quyết trong hạn luật định;

+ Về thu thập chứng cứ: Tòa án thu thập chứng cứ đầu đủ và đúng quy định của pháp luật.

+ Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn: chấp hành và thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Riêng bị đơn vắng mặt gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án.

- Về nội dung: Về quan hệ hôn nhân: chị M và anh C đã có mâu thuẫn trầm trọng, chị M không còn tình cảm với anh C do anh C không có trách nhiệm với gia đình. Do đó, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị M. Về quan hệ con chung: anh C chị M có 1 con chung tên Võ Ngọc Mai P, sinh ngày 17/4/2011. Hiện nay con chung đang sống với chị M. Nếu ly hôn, đề nghị giao con chung cho chị M chăm  sóc, nuôi dưỡng, anh C không phải cấp dưỡng nuôi con. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: đương sự không yêu cầu nên đề nghị không xem xét, giải quyết. Án phí chị M phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về thủ tục tố tụng:

- Tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn chị Trần Thị M vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: xin ly hôn, tranh chấp về con chung; anh Võ Thành C vắng mặt nhưng có lời khai đồng ý ly hôn, đồng ý giao 1 con chung cho chị M chăm sóc nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến của đương sự và tiến hành giải quyết vụ án theo quy định.

- Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự và thẩm quyền giải quyết vụ án: nguyên đơn chị Trần Thị M có đơn khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Võ Thành C, nơi cư trú: số nhà 55, ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định chị Trần Thị M là nguyên đơn, anh Võ Thành C là bị đơn; quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu.

2. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân xét thấy: chị Trần Thị M và anh Võ Thành C kết hôn với nhau năm 2009 trên cơ sở hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn và đã được UBND xã Tân An, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số120, quyển số 01 ngày 16/12/2009 nên được xác định là hôn nhân hợp pháp.

Theo chị M, sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn do anh C ra ngoài có người  phụ nữ khác, thường xuyên chơi cờ bạc gây nợ nần để chủ nợ phải đến nhà đòi nhiều lần . Từ đó thường xuyên kiếm chuyện chửi bới, đánh đập chị và đuổi chị ra khởi nhà nhưng chị vẫn tha thứ và bỏ qua. Nh ưng đến ngày 27/7/2017, anh C lại kiếm chuyện chửi bới, đánh đập chị, đuổi chị ra khỏi nhà. Từ đó anh chị sống ly thân cho đến nay.

Còn đối với anh C cho rằng: Trong quá trình chung sống anh chị phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, từ đó anh chị ly thân nhau. Nay qua yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị M thì anh đồng ý.

Từ những chứng cứ trên, xét thấy mâu thuẫn giữa chị M và anh C là có thật và đã trầm trọng. Chị M xin ly hôn, anh C đồng ý. Do đó, chị Trần Thị M được ly hôn anh Võ Thành C.

- Về quan hệ con chung: Theo lời khai của chị M, anh C: anh chị có 01 con chung tên Võ Ngọc Mai P, sinh ngày 17/4/2011. Ý kiến của chị M và anh C thống nhất nếu được ly hôn anh C đồng ý giao con chu ng cho chị M chăm sóc, nuôi dưỡng và tạm thời anh C không cấp dưỡng nuôi con. Do đó, ghi nhận ý kiến của đương sự giao 01 con chung tên Võ Ngọc Mai P, sinh ngày 17/4/2011 cho chị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục .

Tạm thời anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh C được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.

Vì quyền lợi của con, khi điều kiện thay đổi đương sự được quyền xin thay  đổi người trực tiếp nuôi con cũng như yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 23 của Luật phí và lệ phí năm 2015 của Quốc Hội; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, chị Trần Thị M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được tính trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm ngàn) đồng đã nộp theo biên lai thu số 000768 ngày 04/12/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu. Chị M đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 48, 68, 147, 220, 266, 271, 273, 278 và 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 85, 87, 88, 89, 91 và Điều 92 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000; các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 59, 81, 82, 83, và 131 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 23 của Luật phí và lệ phí năm 2015 của Quốc Hội; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị M được ly hôn anh Võ Thành C.

2. Về quan hệ con chung: Chị Trần Thị M và anh Võ Thành C có 01 con chung tên Võ Ngọc Mai P, sinh ngày 17/4/2011 . Hiện nay con chung đang sống với chị Trần Thị M. Giao 01 con chung tên Võ Ngọc Mai P, sinh ngày 17/4/2011 cho chị Trần Thị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời anh Võ Thành C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Võ Thành C được quyền đến thăm  nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.

Vì quyền lợi của con, khi điều kiện thay đổi đương sự được quyền xin thay  đổi người trực tiếp nuôi con cũng như yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung, nợ chung: đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Chị Trần Thị M phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, được tính trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm ngàn) đồng đã nộp theo biên lai thu số 000768 ngày 04/12/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. Chị Trần Thị M đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị M được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng anh Võ Thành C được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án chính hoặc bản án được niêm yết.


84
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 07/2018/HNGĐ-ST ngày 08/02/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:07/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Vĩnh Cửu - Đồng Nai
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:08/02/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về