Bản án 06/2021/HS-ST ngày 12/01/2021 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN – THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 06/2021/HS-ST NGÀY 12/01/2021 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 12 tháng 01 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 176/2020/TLST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 443/2020/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:

Phạm Văn L, sinh năm 1991 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn G và bà Bùi Thị L; có vợ là Nguyễn Thị Diệp T và 01 con; tiền án: Tại Bản án số 67/2018/HSST ngày 21/11/2018 Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xử 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; bị tạm giữ ngày 21/7/2020; tạm giam ngày 24/7/2020; có mặt.

- Bị hại:

Anh Đỗ Quốc V, sinh năm 1975; nơi cư trú: H, D, Thường Tín, Hà Nội;

vắng mặt.

- Người làm chứng:

Ông Phạm Quốc H; có mặt.

Ông Phạm Văn H; vắng mặt.

Ông Nguyễn Anh T; đã chết ngày 22/11/2020

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 20/7/2020, Phạm Văn L một mình đi vào khu công trình xây dựng của Bệnh viện đa khoa Quốc Tế Hải Phòng để xin việc làm thợ sơn. Khi đi qua phòng 808, L thấy tại góc tường phía bên phải, cách cửa ra vào khoảng 03 mét có 02 máy khoan và 01 máy mài của anh Đỗ Quốc V, sinh năm 1975; địa chỉ: H, D, Thường Tín, Hà Nội không có người trông coi của nên nảy sinh ý định trộm cắp. L cho 02 máy khoan và 01 máy cắt vào trong ba lô rồi khoác lên vai đi thang bộ xuống tầng 1. Khi đi đến cửa tòa nhà, L bị bảo vệ cùng Công an phường Cát Dài kiểm tra. L không nói được nguồn gốc số máy trên nên tổ công tác đã đưa L về trụ sở Công an phường để làm rõ. Ngoài ra còn thu giữ của L 01 xe mô tô nhãn hiệu Kaiser không có biển kiểm soát.

Kết luận định giá số 78/KL-ĐGTTHS ngày 21/7/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Lê Chân kết luận:

Giá trị còn lại của 01 máy khoan nhỏ đã qua sử dụng, nhãn hiệu Makita màu xanh lá cây, có lưỡi khoan, ký hiệu M8103 là 750.000 đồng.

Giá trị còn lại của 01 máy khoan to đã qua sử dụng, nhãn hiệu DCA màu xanh lá cây, không có mũi khoan, ký hiệu AZC05-26B là 750.000 đồng.

Giá trị còn lại của 01 máy cắt đã qua sử dụng, nhãn hiệu Makita màu xanh lá cây, ký hiệu 9553 là 700.000 đồng.

Tổng giá trị còn lại của các tài sản cần định giá trên là 2.200.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra Phạm Văn L khai nhận về hành vi trộm cắp của mình như nội dung trên. Tuy nhiên khi bị cáo bị yêu cầu về Công an phường để làm rõ, bị cáo đã khai tên của mình là Phạm Văn T, sinh năm 1995; trú tại: Đ, T, Vĩnh Bảo, Hải Phòng.

Ngày 22/7/2020, Cơ quan điều tra đã lập danh chỉ bản của đối tượng, gửi danh chỉ bản đến Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an thành phố Hải Phòng để tra cứu thông tin đối tượng trong hồ sơ quản lý của Công an thành phố Hải Phòng để tra cứu thông tin: đối tượng là Phạm Văn T chưa có tiền án, tiền sự. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân đã ra bản Kết luận điều tra vụ án hình sự và chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án đến Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân để đề nghị truy tố Phạm Văn T về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại biên bản hỏi cung ngày 23/9/2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân bị cáo khai tên thật là Phạm Văn L. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, bị cáo lấy tên em ruột là Phạm Văn T để khai báo với cơ quan công an nhằm che giấu thân phận của mình, sau này nếu có bị xử lý thì không bị ảnh hưởng đến lý lịch bản thân.

Ngày 30/9/2020, Phòng Hồ sơ Công an thành phố Hải Phòng có Công văn số 1381/PV06 về việc “ cấp lại trích lục tiền án, tiền sự của đối tượng Phạm Văn T thành đối tượng Phạm Văn L, bổ sung thay thế cho trích lục tiền án, tiền sự đã cấp ngày 14/9/2020”. Ngày 02/10/2020, Phòng Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an thành phố Hải Phòng có công văn số 3668/PC06(Đ7) về việc: “ Vân tay trong chỉ bản số 175 lập ngày 22/7/2020 tại Công an quận Lê Chân của đối tượng Phạm Văn T và vân tay trong chỉ bản của Phạm Văn L, sinh ngày 28/8/1991 được lưu trữ tại Tàng thư Căn cước công dân, Phòng PC06-Công an thành phố Hải Phòng là trùng khớp”.

Anh Đỗ Quốc V khai: Khoảng 18 giờ ngày 20/7/2020, anh V nhận được điện thoại của bảo vệ Bệnh viện khoa Quốc tế báo cáo có sự việc trộm cắp tài sản xảy ra tại phòng 808 của bệnh viện và yêu cầu anh kiểm tra lại tài sản. Sau khi kiểm tra, anh V phát hiện bị mất 01 máy khoan nhỏ, 01 máy khoan to và 01 máy cắt. Hiện anh đã lấy lại tài sản đầy đủ và không có yêu cẩu bồi thường gì.

Bản cáo trạng số 01/CT-VKS ngày 07/12/2020, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân đã truy tố bị cáo Phạm Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận như nội dung trên.

Tại phiên tòa người làm chứng là anh Phạm Quốc H khai: Ngày 20/7/2020 anh được giao nhiệm vụ cùng lực lượng bảo vệ của Bệnh viện đa khoa Quốc tế Hải Phòng tiến hành kiểm tra, kiểm soát, đảm bảo an ninh trật tự tại Bệnh viện, đã phát hiện nam giới nghi ngờ nên đã kiểm tra và phát hiện trong ba lô của đối tượng có hai máy khoan và 01 máy cắt, tuy nhiên đối tượng không nói rõ được nguồn gốc nên đã đưa về trụ sở Công an lập biên bản. Tại trụ sở Công an phường đối tượng khai tên là Phạm Văn T, sinh năm 1995; địa chỉ: Đ, T, Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Tại phiên tòa anh khẳng định bị cáo đứng trước bục khai báo đúng là bị cáo anh bắt giữ tại Bệnh viện đa khoa Quốc tế ngày 20/7/2020.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị HĐXX:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; Bộ luật Hình sự xử phạt Phạm Văn L mức án từ 18 tháng 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Anh Đỗ Quốc V đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì nên không đề nghị HĐXX xem xét.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Phạm Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Lê Chân, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ thể hiện: Vào khoảng 17 giờ ngày 20/7/2020 Phạm Văn L có hành vi lén lút chiếm đoạt 02 máy khoan và 01 máy cắt, trị giá 2.200.000 đồng của của anh Đỗ Quốc V tại phòng 808 Bệnh viện đa khoa Quốc tế nên đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai trái, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn thực hiện nên cần xử lý nghiêm.

[4 ] Về nhân thân tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo L có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên phạm tội lần này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Mặc dù tại cơ quan điều tra bị cáo khai báo tên em trai mình là Phạm Văn T làm khó khăn cho công tác điều tra, tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình nên xem xét cho bị cáo được hưởng có mức độ tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Do bị cáo không có nghề nghiệp thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Đỗ Quốc V đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì nên HĐXX không xem xét.

[8] Đối với 01 ba lô màu đen thu giữ của bị cáo, cơ quan cảnh sát điều tra công an quận Lê Chân đã trả lại cho gia đình bị cáo, nên HĐXX không xét.

[9] Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Kaiser thu giữ, Phạm Văn L khai mua của một công nhân trong khu Công trường Vinhome, Vĩnh Niệm, Lê Chân, Hải Phòng với giá 1.000.000 đồng. Người nam giới hẹn mấy ngày sau quay lại đưa giấy tờ nhưng không thấy đâu. Tiến hành xác minh chủ xe là anh Phạm Văn H, sinh năm 1986; ĐKTT: C, C.T, Thanh Hóa. Anh H khai khoảng 7h ngày 17/7/2020, anh H dựng 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36L1-152X tại phòng trọ số 01 nhà số 02 đường Đ, phường Kênh Dương, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng rồi đi làm. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, anh H đi làm về thì phát hiện cửa phòng bị kẻ trộm phá khóa và lấy trộm xe mô tô. Anh H không nghi ngờ cho ai lấy trộm xe của mình. Cơ quan điều tra Công an quận Lê Chân đã trả lại chiếc xe trên cho anh H. Đối với đối tượng trộm cắp xe máy của anh Phạm Văn H hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân chưa làm rõ được nên không đủ cơ sở xác định L có hành vi Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra xác minh, xử lý sau nên HĐXX không xét.

[10] Về án phí: Bị cáo Phạm Văn L phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Phạm Văn L 18 (mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 21 tháng 7 năm 2020.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Phạm Văn L phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.


21
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 06/2021/HS-ST ngày 12/01/2021 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:06/2021/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Lê Chân - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:12/01/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về