Bản án 06/2021/HNGĐ-ST ngày 14/01/2021 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L - TỈNH Y

BẢN ÁN 06/2021/HNGĐ-ST NGÀY 14/01/2021 VỀ LY HÔN

Ngày 14 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện L- tỉnh Y, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 200/2020/HNGĐ-ST ngày 01 tháng 10 năm 2020 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2020/QĐXX-ST ngày 31 tháng 12 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Hoàng Vũ H  43 tuổi Địa chỉ: Thôn 4 xã TL- huyện L- tỉnh Y, có mặt.

Bị đơn: Chị Lý Thị M   35 tuổi Địa chỉ: Thôn 4 xã TL- huyện L- tỉnh Y, có mặt.

Người có quyền lợi liên quan:

1- Anh Hoàng Minh H 47 tuổi, Địa chỉ: Thôn 4 xã TL- huyện L- tỉnh Y.

2- Anh Lê Văn L 32 tuổi, Địa chỉ: Thôn 4 xã TL- huyện L- tỉnh Y.

Đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 01-10-2020 và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn là anh Hoàng Vũ H trình bày: Anhvà chị Lý Thị M kết hôn tháng 11 năm 2005 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn lại tại UBND xã TL- huyện L- tỉnh Y. Sau khi kết hôn vợ chồng sống không hạnh phúc do bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi, chửi nhau; chị M không bao giờ quan tâm đến anh. Năm 2015 mâu thuẫn trở nên trầm trọng, thôn bản, gia đình hai bên đã hoà giải, khuyên nhủ nhưng tình trạng hôn nhân vẫn không được cải thiện; đã năm năm vợ chồng sống ly thân. Xác định tình cảm không còn, anh đề nghị giải quyết cho ly hôn. Về con chung: Vợ chồng có ba cháu là Hoàng Thị Khánh LC sinh ngày 31-10-2006; Hoàng Thị Khánh L sinh ngày 03-6-2011 và Hoàng Tuấn H sinh ngày 28-10-2013. Khi ly hôn anh sẽ nuôi hai cháu lớn là Hoàng Thị Khánh LC và Hoàng Thị Khánh L; chị M sẽ nuôi cháu Hoàng Tuấn H.

Thời gian chung sống vợ chồng có các tài sản chung như sau: 01 căn nhà xây mái bằng diện tích sử dụng 100m2 trị giá 200.000.000 đồng; 01 căn bếp xây diện tích sử dụng 50m2 trị giá 100.000.000 đồng; 01 chiếc ti vi trị giá 10.000.000 đồng; 01 chiếc tủ kệ trị giá 5.000.000 đồng; 01 chiếc tủ lạnh trị giá 2.000.000 đồng. Tổng trị giá khoảng 317.000.000 đồng. Riêng thửa đất đang ở là của anh trai Hoàng Minh H (Giấy chứng nhân quyền sử dụng đất mang tên anh H).

Về công nợ chung: Vợ chồng còn nợ anh Lê Văn L tiền làm mái tôn 50.000.000 đồng.

Khi ly hôn anh yêu cầu được chia 2/3 giá trị tài sản; chị M 1/3 giá trị tài sản. Trong bản tự khai và tại các phiên hoà giải bị đơn là chị Lý Thị M trình bày cơ bản như lời khai của anh H. Theo chị mâu thuẫn phát sinh từ năm 2013 do anh H đi làm ăn chơi bời gái gú; không quan tâm đến gia đình, vợ con; tính tình nóng nảy, không thể kiểm chế dẫn đến thường xuyên xảy ra cãi vã. Nay xác định không còn tình cảm chị đồng ý ly hôn. Về con chung, khi ly hôn chị sẽ nuôi cả ba cháu vì từ bé đến giờ đều do một mình chị chăm sóc, dạy dỗ, đưa đón học hành và yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 700.000 đồng/1 cháu cho đến khi các các cháu đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung chị nhất trí với lời khai của anh H. Khi ly hôn chị yêu cầu được chia 1/2 giá trị tài sản. Thời gian chung sống vợ chồng không nợ của ai.

Trong bản tự khai và biên bản lấy lời khai, người có quyền lợi liên quan là anh Hoàng Minh H trình bày: Thửa đất vợ chồng anh Hoàng Vũ H và chị Lý Thị M đang sử dụng là do bố mẹ anh để lại cho anh. Thửa đất rộng khoảng gần 1.000 m2 có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên anh. Khi vợ chồng anh H- chị M tách hộ ra ở riêng tại thửa đất đó. Nay anh H- chị Mớí ly hôn, thửa đất trên vẫn thuộc quyền quản lý, sử dụng của anh.

Trong biên bản lấy lời khai, người có quyền lợi liên quan là anh Lê Văn L trình bày: Cuối năm 2019 anh có làm hàng rào và mái tôn cho gia đình anh H- chị M với tổng số tiền là 70.000.000 đồng. Anh H đã trả 50.000.000 đồng hiện vẫn còn nợ 20.000.000 đồng. Nếu anh H- chị M ly hôn, anh yêu cầu anh H phải trả cho anh số tiền trên.

Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện L- tỉnh Y phát biểu ý kiến: Qúa trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng dân sự; quyền và nghĩa vụ của các đương sự được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 56; các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên xử cho anh H được ly hôn với chị M, giao cả ba con cho chị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; buộc anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật; ghi nhận sự thoả thuận của các đương sự về chia tài sản chung và công nợ chung…

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp giữa anh Hoàng Vũ H và chị Lý Thị M là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện L. Anh Lê Văn L và anh Hoàng Minh H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đúng quy định của pháp luật.

[2] Về tình cảm: Anh Hoàng Vũ H và chị Lý Thị M kết hôn năm 2005, việc kết hôn này tuân thủ đúng những quy định của Luật Hôn nhân và gia đình do đó đây là hôn nhân hợp pháp.

Tại điều 19 luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Theo lời khai của các đương sự cho thấy do nhiều nguyên nhân nên trong thời gian qua vợ chồng anh H- chị M không hạnh phúc, trong đó nguyên nhân chính là do quan điểm, tính cách, lối sống không hợp nhau; thiếu sự tin tưởng lẫn nhau dẫn đến nhiều lần xảy ra cãi vã; hai người cũng đã có thời gian dài sống ly thân không còn quan tâm đến nhau nữa.

Qúa trình giải quyết cả anh H và chị M đều xác định tình cảm vợ chồng không còn và thống nhất ly hôn. Qua đó cho thấy tình cảm vợ chồng giữa anh H- chị M đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, do đó yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh H có căn cứ chấp nhận.

[3] Về con chung: Anh H và chị M có ba cháu là Hoàng Thị Khánh LC sinh ngày 31-10-2006; Hoàng Thị Khánh L sinh ngày 03-6-2011 và Hoàng Tuấn H sinh ngày 28-10-2013, hiện các cháu đang ở với mẹ. Qúa trình giải quyết vụ án hai bên không thỏa thuận được; tại phiên tòa anh H thay đổi quan điểm đề nghị được nuôi cháu Hoàng Tuấn H, nếu được quyền nuôi cháu H anh sẽ đưa cháu đến nơi anh đang làm xây dựng; chị M đề nghị được nuôi cả ba cháu và yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 700.000 đồng/một cháu cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Theo quy định tại khoản 2 điều 81 Luật hôn nhân và gia đình thì “Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Phải khẳng định nguyện vọng nuôi con của các đương sự hoàn toàn chính đáng. Tuy nhiên kết quả xác minh tại địa phương cho thấy anh Hoàng Vũ H hiện đang làm xây dựng tại Lào Cai thường xuyên vắng nhà; toàn bộ việc trông nom, nuôi dưỡng các cháu là do chị M lo liệu. Cháu L và K L đang độ tuổi phát triển về tâm sinh lý nên rất cần sự gần gũi, chăm sóc của gười mẹ. Mặt khác cả ba cháu đã trên 07 tuổi và đều có đơn đề nghị được ở với mẹ. Để đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống sinh hoạt, học tập, cần giao cả ba cháu cho chị M trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với hoàn cảnh thực tế và nguyện vọng của các cháu.

Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Theo quy định tại khoản 2 điều 82 Luật hôn nhân và gia đình thì “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”, như vậy yêu cầu của chị M về vấn đề này là chính đáng. Theo lời khai của anh H và kết qủa xác minh tại địa phương cho thấy công việc chủ yếu của anh H là làm xây dựng. Thu nhập bình quân khoảng 7.000.000 đến 10.000.000 đồng/tháng. Mức cấp dưỡng 700.000 đồng/tháng/1 cháu theo yêu cầu của chị M là phù hợp với khả năng kinh tế hiện tại của anh H nên cần được chấp nhận. [4] Về tài sản chung và công nợ chung:

Qúa trình giải quyết vụ án các đương sự thống nhất xác định tài sản chung vợ chồng có 01 căn nhà xây mái bằng diện tích sử dụng 100m2 trị giá 200.000.000 đồng; 01 căn bếp xây diện tích sử dụng 50m2 trị giá 100.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản chung là 300.000.000 đồng. Riêng diện tích đất đang ở là của anh Hoàng Minh H (Anh trai anh H). Hiện tại vợ chồng còn nợ của anh Lê Văn L ở cùng thôn 20.000.000 đồng. Tại phiên hoà giải các đương sự đã thoả thuận thống nhất như sau:

- Anh Hoàng Vũ H được quyền quản lý, sử dụng 01 căn nhà xây mái bằng diện tích sử dụng 100m2 trị giá 200.000.000 đồng; 01 căn bếp xây diện tích sử dụng 50m2 trị giá 100.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 300.000.000 đồng:

- Anh H có nghĩa vụ thanh toán 1/2 giá trị tài sản cho chị Lý Thị M số tiền là 150.000.000 đồng.

- Anh H có nghĩa vụ trả khoản nợ cho anh Lê Văn L số tiền là 20.000.000 đồng:

 Các đồ dùng sinh hoạt khác hai người tự chia.

Xét thấy sự thoả thuận của các đương sự về tài sản chung và công nợ chung là hoàn toàn tự nguyện; nội dung thoả thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội cần ghi nhận.

[5] Về án phí: Anh H phải chịu án phí ly hôn, án phí cấp dưỡng nuôi con. Cả anh H và chị M phải chịu án phí chia tài sản chung theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1- Về tình cảm: Căn cứ khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình:

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, anh Hoàng Vũ H được ly hôn với chị Lý Thị M.

2- Về con chung: Căn cứ các điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; điều 357 Bộ luật Dân sự; giao cả ba cháu là Hoàng Thị Khánh LC sinh ngày 31-10- 2006; Hoàng Thị Khánh L sinh ngày 03-6-2011 và Hoàng Tuấn H sinh ngày 28- 10-2013 cho chị Lý Thị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Hoàng Vũ H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi các con mỗi tháng 700.000 đồng/một cháu kể từ tháng 02 năm 2021 cho đến khi cháu LC, cháu L, cháu H đủ 18 tuổi và có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh H thực hiện quyền này.

3- Về tài sản chung và công nợ chung: Căn cứ điều 33, điều 59, điều 60 Luật Hôn nhân và gia đình; điều 357 Bộ luật Dân sự; khoản 1 điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự:

Ghi nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

- Anh Hoàng Vũ H được quyền quản lý, sử dụng 01 căn nhà xây mái bằng diện tích sử dụng 100m2 trị giá 200.000.000 đồng; 01 căn bếp xây diện tích sử dụng 50m2 trị giá 100.000.000 đồng tại thôn 4 xã TL- huyện L- tỉnh Y. Tổng giá trị tài sản là 300.000.000 đồng:

- Anh Hoàng Vũ H có nghĩa vụ thanh toán 1/2 giá trị tài sản cho chị Lý Thị M số tiền là 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng):

- Anh Hoàng Vũ H có nghĩa vụ trả khoản nợ cho anh Lê Văn Lập số tiền là 20.000.000 đồng:

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4- Về án phí: Căn cứ khoản 4 điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, điểm đ khoản 5; điểm a khoản 6 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30- 12- 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

- Anh Hoàng Vũ H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn; 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con và 4.000.000 đồng án phí giải quyết tài sản, công nợ chung; Tổng cộng là 4.600.000 đồng (Bốn triệu sáu trăm ngàn đồng). Xác nhận anh H đã nộp 9.400.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện L- tỉnh Y theo biên lai số AA/2017/0008265 ngày 01-10-2020 và biên lai số AA/2017/0008334 ngày 06-11-2020. Số tiền anh H còn được hoàn lại là 4.800.000 đồng.

- Chị Lý Thị M phải chịu 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) án phí chia tài sản chung; công nợ chung.

5- Quyền kháng cáo: Anh Hoàng Vũ H và chị Lý Thị M có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án.

6- Quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.


23
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 06/2021/HNGĐ-ST ngày 14/01/2021 về ly hôn

Số hiệu:06/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lục Yên - Yên Bái
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:14/01/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về