Bản án 06/2021/HNGĐ-ST ngày 11/01/2021 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 06/2021/HNGĐ-ST NGÀY 11/01/2021 VỀ LY HÔN

Ngày 11 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 778/2020/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2020 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 274/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 209/2020/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị M, sinh năm 1976; nơi cư trú: Cụm 2, tổ dân phố H, thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Anh Vũ Văn Đ, sinh năm 1971; nơi cư trú: Thôn V, xã P, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Chị Phạm Thị M là nguyên đơn trình bày tại đơn khởi kiện và bản tự khai như sau: Chị quen biết, phát sinh tình cảm và tự nguyện chung sống cùng anh Vũ Văn Đ từ năm 2009, nhưng đến ngày 17 tháng 8 năm 2016, chị và anh Đ mới làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, thành phố Hải Phòng. Chị và anh Đ đều làm ăn tự do, buôn bán ở ngoài đảo C, thỉnh thoảng khi gia đình có việc thì vợ chồng chị mới về nhà của bố mẹ anh Đ ở xã P, huyện T. Cuộc sống chung hòa thuận, đến đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong làm ăn kinh tế và không thống nhất về nơi ở. Anh Đ bỏ về quê sinh sống, vợ chồng sống ly thân nhau từ đầu năm 2020 đến nay. Gia đình và bạn bè đã khuyên giải nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không được cải thiện. Nay xác định tình cảm không còn nên chị M xin được ly hôn anh Vũ Văn Đ. Chị M và anh Đ không có con chung, không có tài sản chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Vũ Văn Đ là bị đơn, được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác và có biên bản lấy lời khai trình bày quan điểm: Thống nhất với lời khai của chị Phạm Thị M về thời gian đăng ký kết hôn và nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn. Nay, chị M xin ly hôn, anh Đ mong muốn vợ chồng đoàn tụ, nếu chị M quyết tâm xin ly hôn thì anh Đ đề nghị Tòa án căn cứ pháp luật giải quyết. Anh và chị M không có con chung, không có tài sản chung.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã thực hiện tương đối đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ý kiến về việc giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Phạm Thị M được ly hôn anh Vũ Văn Đ. Nguyên đơn nộp án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng Bị đơn là anh Vũ Văn Đ đã được tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về yêu cầu của chị Phạm Thị M ly hôn anh Vũ Văn Đ Chị M và anh Đ kết hôn tự nguyện, đủ điều kiện kết hôn và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chứng nhận đăng ký kết hôn nên việc kết hôn giữa chị M và anh Đ là hợp pháp. Chị M và anh Đ đều thống nhất vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ đầu năm 2020, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong sinh hoạt, trong làm ăn kinh tế. Vợ chồng không thống nhất về nơi ăn chốn ở nên xảy ra cãi mắng xúc phạm nhau. Anh Đ bỏ về quê ở xã P, huyện T, thành phố Hải Phòng sinh sống, còn chị M vẫn làm ăn sinh sống ở thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng; vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, tình cảm ngày càng thờ ơ lạnh nhạt và sống ly thân nhau từ đầu năm 2020 cho đến nay. Gia đình và bạn bè đã hòa giải động viên nhiều nhưng mâu thuẫn vẫn không được cải thiện. Từ những chứng cứ nêu trên cho thấy mục đích hôn nhân giữa chị M và anh Đ không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị M xin ly hôn anh Đ.

[3] Về con chung, chị Phạm Thị M và anh Vũ Văn Đ thống nhất khai không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[4] Về tài sản chung, chị Phạm Thị M và anh Vũ Văn Đ thống nhất khai không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[5] Về án phí, chị Phạm Thị M phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, - Cho chị Phạm Thị M được ly hôn anh Vũ Văn Đ.

- Chị Phạm Thị M phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Đối trừ với số tiền tạm ứng án phí đã nộp (ghi tại biên lai thu số 0002430 ngày 26/10/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên), chị Phạm Thị M đã nộp đủ án phí.

- Chị Phạm Thị M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Vũ Văn Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


21
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 06/2021/HNGĐ-ST ngày 11/01/2021 về ly hôn

Số hiệu:06/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuỷ Nguyên - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:11/01/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về