Bản án 06/2020/HS-ST ngày 07/05/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG

BẢN ÁN 06/2020/HS-ST NGÀY 07/05/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 07 tháng 5 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2020/TLST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2020/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Hoàng N, sinh năm 1987 tại huyện T, tỉnh Vĩnh Long. Nơi cư trú: ấp Z, xã P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Phan Thị Thu Lan.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Có 01 tiền sự. Ngày 30/9/2019, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long ra Quyết định số 112/QĐ-UBND áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn trong thời hạn 03 tháng do có kết quả xét nghiệm dương tính với chất ma túy tổng hợp Methamphetamine (ma túy đá).

Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang ngày 13/12/2019 và bị tạm giữ, tạm giam đến nay (có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1962 (có mặt) Nơi cư trú: ấp Z, xã P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1972 (vắng mặt) Nơi cư trú: ấp Z, xã P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 50 phút ngày 13/12/2019, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an huyện T kết hợp cùng Công an xã P tiến hành kiểm tra nhà của ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1962, thuộc ấp Z, xã P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long thì phát hiện bắt quả tang Nguyễn Hoàng N (là con ruột ông T), sinh năm 1987 ngụ cùng địa chỉ đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Thu giữ tang vật của Nguyễn Hoàng N , gồm:

- 01 (Một) bịch nylon trong suốt, được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng (nghi là chất ma túy) và 09 (Chín) đoạn ống nhựa trong suốt, sọc trắng xanh, được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng (nghi là chất ma túy), tất cả được niêm phong trong phong bì đánh số 01.

- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Itel, màu xanh đen, có sim số 0363703336, được niêm phong trong phong bì đánh số 02.

- 01 (Một) đoạn ống nhựa trong suốt, sọc trắng xanh, hai đầu hở, có một đầu nhọn, bên trong rỗng.

- 80 (Tám mươi) đoạn ống nhựa trong suốt, sọc trắng xanh, một đầu hở, một đầu được hàn kín, bên trong rỗng.

- 03 (Ba) ống nhựa trong suốt, sọc trắng xanh, bên trong rỗng.

- 01 (Một) bình thủy tinh trong suốt, bên trong rỗng, có nắp nhựa màu xanh, trên nắp nhựa có hai lỗ tròn, một lỗ tròn gắn trực tiếp với một ống thủy tinh trong suốt, bên trong rỗng, lỗ còn lại gắn các ống hút nối lại với nhau có màu trắng, xanh, đỏ.

- 01 (Một) cây kéo bằng kim loại, có cán màu xanh.

- 01 (Một) quẹt gas màu đỏ.

Căn cứ Kết luận giám định số 670/KLGĐ – PC09 ngày 16/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long kết luận: mẫu tinh thể rắn màu trắng bên trong 01 (Một) bịch nylon và 09 (Chín) đoạn ống nhựa được niêm phong trong phong bì (đánh số 01) gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng là 1,1172 gam, loại Methamphetamine.

Qua quá trình điều tra Nguyễn Hoàng N khai nhận: Vào khoảng 21 giờ, ngày 12/12/2019 bị cáo mượn xe mô tô hiệu Cup 70 (bị cáo không nhớ biển số) của một người bạn tên D (không biết rõ họ và địa chỉ cụ thể) đi đến khu vực Bến xe mới Vĩnh Long thuộc thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long mua 01 (Một) bịch ma túy với giá 1.700.000 đồng (Một triệu bảy trăm ngàn đồng) của một đối tượng (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể), đem về phân chia ra thành 01 (Một) bịch nhỏ và 09 (Chín) phần bỏ vào trong 09 (Chín) đoạn ống nhựa có sọc trắng xanh (số ma túy đã bị thu giữ lúc bắt quả tang). Bị cáo N mua ma túy về nhằm mục đích cất giữ để sử dụng.

Đối với xe mô tô hiệu Cup 70, Nguyễn Hoàng N khai mượn của một người bạn tên Dương nhưng bị cáo không biết địa chỉ của Dương ở đâu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không làm việc được với Dương, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.

Xử lý vật chứng: Ngày 05/02/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại 01 (Một) điện thoại di động hiệu Itel, màu xanh đen, có sim số 0363 703 336 cho bị cáo Nguyễn Hoàng N do đây là điện thoại bị cáo không dùng để liên lạc mua bán ma túy.

Chuyển các vật chứng sau đây đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện T để tiếp tục tạm giữ, gồm:

- 01 (Một) phong bì niêm phong số 670/KLGĐ-PC09 là mẫu vật hoàn trả còn lại sau khi đã giám định.

- 01 (Một) đoạn ống nhựa trong suốt, sọc trắng xanh, hai đầu hở, có một đầu nhọn, bên trong rỗng.

- 80 (Tám mươi) đoạn ống nhựa trong suốt, sọc trắng xanh, một đầu hở, một đầu được hàn kín, bên trong rỗng.

- 03 (Ba) ống nhựa trong suốt, sọc trắng xanh, bên trong rỗng.

- 01 (Một) bình thủy tinh trong suốt, bên trong rỗng, có nắp nhựa màu xanh, trên nắp nhựa có hai lỗ tròn, một lỗ tròn gắn trực tiếp với một ống thủy tinh trong suốt, bên trong rỗng, lỗ còn lại gắn các ống hút nối lại với nhau có màu trắng, xanh, đỏ.

- 01 (Một) cây kéo bằng kim loại, có cán màu xanh.

- 01 (Một) quẹt gas màu đỏ.

Tại bản Cáo trạng số: 06/CT-VKSTB, ngày 02/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Hoàng N thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo là đúng hành vi, không oan, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đối với hành vi của đối tượng bán chất ma túy cho Nguyễn Hoàng N có dấu hiệu của tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự, nhưng bị cáo N không biết họ tên và địa chỉ cụ thể của đối tượng trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T chưa mời làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau. Đối với ông Nguyễn Văn T là cha ruột của bị cáo N , việc N sử dụng và tàng trữ trái phép chất ma túy tại nhà ông T, ông T không biết nên không đặt ra xem xét trách nhiệm đối với ông T.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Hoàng N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Sau khi phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng cho bị cáo Kiểm sát viên đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng N mức án từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy vật chứng:

- 01 (Một) phong bì niêm phong số: 670/KLGĐ-PC09 là mẫu vật hoàn trả còn lại sau khi đã giám định.

- 01 (Một) đoạn ống nhựa trong suốt, sọc trắng xanh, hai đầu hở, có một đầu nhọn, bên trong rỗng.

- 80 (Tám mươi) đoạn ống nhựa trong suốt, sọc trắng xanh, một đầu hở, một được hàn kín, bên trong rỗng.

- 03 (Ba) ống hút nhựa trong suốt, sọc trắng xanh, bên trong rỗng.

- 01 (Một) bình thủy tinh trong suốt, bên trong rỗng, có nắp nhựa màu xanh, trên nắp nhựa có hai lỗ tròn, một lỗ tròn gắn trực tiếp với một ống thủy tinh trong suốt, bên trong rỗng, lỗ còn lại gắn các ống hút nối lại với nhau có màu trắng, xanh, đỏ.

- 01 (Một) cây kéo bằng kim loại, có cán màu xanh.

- 01 (Một) quẹt gas màu đỏ.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Thừa nhận hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản hỏi cung bị can, biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa thể hiện: Vào khoảng 15 giờ 50 phút, ngày 13/12/2019, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an huyện T kết hợp cùng Công an xã P tiến hành kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Nguyễn Hoàng N đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 1,1172 gam, loại Methamphetamine tại nhà của ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1962 thuộc ấp Z, xã P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (là cha ruột của N ). Nguyễn Hoàng N mua ma túy nhằm mục đích cất giữ để sử dụng.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng N đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như truy tố của Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật và có căn cứ.

[2.2] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo biết rõ việc tàng trữ chất ma túy là trái pháp luật, thấy được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng chất ma túy nhưng bị cáo cố tình thực hiện, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo đã bị xử lý hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không từ bỏ mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo có nhân thân xấu. Vì vậy, cần xử lý bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời giúp bị cáo cai nghiện, trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội và ngăn chặn những trường hợp tương tự có thể xảy ra.

Xét hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo nhằm mục đích để sử dụng nên áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là đủ, không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung.

[2.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Có ông ngoại Phan Văn B tham gia cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[2.4] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;

điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy vật chứng không có giá trị, vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ: - 01 (Một) phong bì niêm phong số: 670/KLGĐ-PC09 là mẫu vật hoàn trả còn lại sau khi đã giám định.

- 01(Một) đoạn ống nhựa trong suốt, sọc trắng xanh, hai đầu hở, có một đầu nhọn, bên trong rỗng.

- 80 (Tám mươi) đoạn ống nhựa trong suốt, sọc trắng xanh, một đầu hở, một được hàn kín, bên trong rỗng.

- 03 (Ba) ống hút nhựa trong suốt, sọc trắng xanh, bên trong rỗng.

- 01 (Một) bình thủy tinh trong suốt, bên trong rỗng, có nắp nhựa màu xanh, trên nắp nhựa có hai lỗ tròn, một lỗ tròn gắn trực tiếp với một ống thủy tinh trong suốt, bên trong rỗng, lỗ còn lại gắn các ống hút nối lại với nhau có màu trắng, xanh, đỏ.

- 01 (Một) cây kéo bằng kim loại, có cán màu xanh.

- 01 (Một) quẹt gas màu đỏ.

Hiện vật chứng đang quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/3/2020.

[2.5] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo N phải nộp 200.000 đồng.

[3] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

1.1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1.2 Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng N 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 13/12/2019.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;

điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (Một) phong bì niêm phong số: 670/KLGĐ-PC09 là mẫu vật hoàn trả còn lại sau khi đã giám định.

- 01 (Một) đoạn ống nhựa trong suốt, sọc trắng xanh, hai đầu hở, có một đầu nhọn, bên trong rỗng. - 80 (Tám mươi) đoạn ống nhựa trong suốt, sọc trắng xanh, một đầu hở, một được hàn kín, bên trong rỗng.

- 03 (Ba) ống hút nhựa trong suốt, sọc trắng xanh, bên trong rỗng.

- 01 (Một) bình thủy tinh trong suốt, bên trong rỗng, có nắp nhựa màu xanh, trên nắp nhựa có hai lỗ tròn, một lỗ tròn gắn trực tiếp với một ống thủy tinh trong suốt, bên trong rỗng, lỗ còn lại gắn các ống hút nối lại với nhau có màu trắng, xanh, đỏ.

- 01 (Một) cây kéo bằng kim loại, có cán màu xanh.

- 01 (Một) quẹt gas màu đỏ.

Hiện vật chứng đang quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/3/2020.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTV QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.


10
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 06/2020/HS-ST ngày 07/05/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:06/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tam Bình - Vĩnh Long
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:07/05/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về