Bản án 06/2020/HS-ST ngày 01/09/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MƯỜNG LAY, TỈNH ĐIỆN BIÊN

BẢN ÁN 06/2020/HS-ST NGÀY 01/09/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 01 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở tòa án nhân dân thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2020/TLST-HS, ngày 07/8/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2020/QĐXXST-HS ngày 20/8/2020 đối với bị cáo:

Khoàng Văn D (tên gọi khác: không); sinh năm 1996 tại thị xã ML, tỉnh Điện Biên;

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: bản HL2, xã LN, thị xã ML, tỉnh Điện Biên. Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa 6/12; Dân tộc: Thái; Giới tính:

Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Khoàng Văn Đ - sinh năm: 1975 và bà Lò Thị Th - sinh năm 1975; bị cáo sống chung như vợ chồng với chị Vàng Thị D - sinh năm: 1994; Bị cáo có một người con sinh năm 2019; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/6/2020. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng: anh Chui Tuấn D1 - sinh năm: 1997; Trú tại: Bản HL, xã LN, thị xã ML, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án: ông Khoàng Văn Đ - sinh năm 1975; Trú tại: Bản HL, xã LN, thị xã ML, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 12 giờ 10 phút, ngày 08/6/2020 tại khu vực bản L, xã LN, thị xã ML, Công an thị xã Mường Lay phát hiện, bắt quả tang Khoàng Văn D có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, vật chứng thu được có 02 gói Heroine có tổng khối lượng là 0,19 gam và 01 chiếc xe máy. Tại cơ quan điều tra Khoàng Văn D khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau:

Vào khoảng 11 giờ 15 phút ngày 08/6/2020 D và Chui Văn D1 là người cùng bản đang chơi tại nhà D, D bảo D1 lấy xe mô tô Honda Wave S, chở D đi đến khu vực bản MT, xã MT, huyện MCh. Khi đến khu vực bản MT, D bảo D1dừng xe ở đường QL 12, D đi bộ vào bản và hỏi mua của một người đàn ông không quen biết 200.000 đồng được 02 gói Heroine có khối lượng 0,19 gam. Sau khi mua được Heroine D cầm 02 gói Heroine ở tay phải rồi đi bộ ra chỗ D1 sau đó cả hai chở nhau về. Trên đường về, tại Khu vực bản L, xã LN, D đã bị tổ công tác Công an thị xã Mường Lay bắt quả tang thu giữ 02 gói Heroine có tổng khối lượng là 0,19 gam và 01 chiếc xe máy.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng của cơ quan Công an thị xã Mường Lay ngày 08/6/2020 xác định số Heroine thu giữ của Khoàng Văn D có khối lượng là 0,19g. (Trích 0,06gam vật chứng thu của Khoàng Văn Dưỡng làm mẫu gửi giám định) Tại bản kết luận giám định số 540/GĐ-PC09 ngày 19/6/2020 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu vật chứng gửi giám định, vật chứng thu giữ của Khoàng Văn D là ma túy loại Heroine có khối lượng 0,19g. (Không hoàn lại mẫu vật sau giám định). Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, SST: 9, mục IA, danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018.

Tại bản cáo trạng số 07/CT-VKSML ngày 06/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Khoàng Văn D về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS.

Xử phạt bị cáo Khoàng Văn D từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/6/2020.

Đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS vì bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 0,13 gam Heroine vật chứng thu giữ của Khoàng Văn D là vật chứng còn lại sau khi giám định. Trả lại chiếc xe máy đã qua sử dụng, nhãn hiệu HONDA WAVE S, không có biển kiểm soát, chắn bùn đằng trước bị vỡ, đèn hậu sau bị vỡ, xe có 01 chìa khóa; số khung: RLHJC43149Y115710; số máy: JC43E-0662601 cho ông Khoàng Văn Đ.

Bị cáo Khoàng Văn D tại phiên tòa nhất trí với bản luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo không có ý kiến tranh luận và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến kiểm sát viên, lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Khoàng Văn D đã khai nhận hành vi phạm tội của bản thân, bị cáo thừa nhận ngày 08/6/2020 D và Chui Văn D1 là người cùng bản đang chơi tại nhà D, D bảo D1 lấy xe mô tô Honda Wave S, chở D đi đến khu vực bản M, xã MT, huyện MCh. Khi đến khu vực bản MT, D bảo D1 dừng xe ở đường QL 12, D đi bộ vào bản và hỏi mua của một người đàn ông không quen biết 200.000 đồng được 02 gói Heroine có khối lượng 0,19 gam. Sau khi mua được Heroine D cầm 02 gói Heroine ở tay phải rồi đi bộ ra chỗ D1 sau đó cả hai chở nhau về. Trên đường về, tại Khu vực bản L, xã LN, D đã bị tổ công tác Công an thị xã Mường Lay bắt quả tang thu giữ 02 gói Heroine có tổng khối lượng là 0,19 gam và 01 chiếc xe máy. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ cũng như bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Hành vi tàng trữ Heroine nhằm mục đích để sử dụng của bị cáo nêu trên là nguy hiểm cho xã hội. Do vậy HĐXX đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Khoàng Văn D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

[2]. Xét tính chất mức độ và hậu quả của tội phạm: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp chính sách độc quyền của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý và sử dụng các chất ma túy, tiếp tay cho các loại tội phạm khác làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn thị xã. Bị cáo Khoàng Văn D tàng trữ 0,19g Heroine với mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo là phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng phạm vào điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Do đó bị cáo bị VKS thị xã Mường Lay truy tố, kết luận phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là hoàn toàn chính xác, có căn cứ đúng pháp luật, không oan sai.

[3]. Về nhân thân: Bị cáo Khoàng Văn Dcó nhân thân xấu là đối tượng nghiện ma túy. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm thấy rằng bị cáo là người lao động tự do, không có thu nhập ổn định, gia đình còn gặp nhiều khó khăn. Do đó HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Từ những phân tích về hành vi vi phạm của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân, động cơ mục đích phạm tội của bị cáo. HĐXX xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, có ý thức chấp hành pháp luật đủ sức răn đe với bị cáo. HĐXX xét thấy mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là có cơ sở cần chấp nhận.

[6]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[7]. Về vật chứng vụ án: Theo quy định tại điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS Tịch thu tiêu hủy 0,19 gam Heroine (đã trích 0,06 gam gửi giám định không hoàn lại) còn lại 0,13 gam vật chứng của vụ án là vật cấm tàng trữ, lưu hành.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE S, không có biển kiểm soát, chắn bùn đằng trước bị vỡ, đèn hậu sau bị vỡ, xe có 01 chìa khóa; số khung: RLHJC43149Y115710; số máy: JC43E-0662601 theo các tài liệu cho trong hồ sơ vụ án thì chiếc xe đó là của ông Khoàng Văn Đ, do ông Đ thường xuyên đi làm thuê ở xa nên việc bị cáo D sử dụng xe đi mua ma túy ông Đoàn không biết. Vì vậy HĐXX trả lại tài sản là chiếc xe máy cho ông Khoàng Văn Đ là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[8]. Trong vụ án này, bị cáo khai mua Heroine của một người đàn ông không quen biết. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã chưa xác định được nên không đủ căn cứ xử lý trong vụ án này.

Đối với anh Chui Tuấn D1 là người chở bị cáo đến khu vực xã Mường Tùng. Anh D1 không biết việc bị cáo đến khu vực Mường Tùng để đi mua ma túy nên không đề cập xử lý.

[9]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; và điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án ngày 30/12/2016, bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 của BLTTHS: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

[1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Khoàng Văn D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

[2]. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Khoàng Văn D 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/6/2020.

[3]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS Tịch thu tiêu hủy 0,19 gam Heroine (đã trích 0,06 gam gửi giám định không hoàn lại) còn lại 0,13 gam là vật chứng của vụ án đựng trong 01 phong bì Công an thị xã Mường Lay được niêm phong.

Trả lại chiếc xe máy đã qua sử dụng, nhãn hiệu HONDA WAVE S, không có biển kiểm soát, chắn bùn đằng trước bị vỡ, đèn hậu sau bị vỡ, xe có 01 chìa khóa; số khung: RLHJC43149Y115710; số máy: JC43E-0662601 cho ông Khoàng Văn Đ. ( Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Mường Lay và Chi Cục thi hành án Dân sự thị xã Mường Lay ngày 07/8/2020)

[4]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án ngày 30/12/2016, bị cáo Khoàng Văn D phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

[5]. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án. (Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần liên quan đến quyền lợi của mình).


9
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 06/2020/HS-ST ngày 01/09/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:06/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mường Lay - Điện Biên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:01/09/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về