Bản án 06/2017/HSST ngày 30/11/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN

BẢN ÁN 06/2017/HSST NGÀY 30/11/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 30 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã M, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2017/HSST, ngày 17 tháng 11 năm 2017, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2017/HSST – QĐ ngày 17 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo: Họ và tên: Lò Văn T ; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1970, tại huyện M, tỉnh Điện Biên; Cư trú: Bản L, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên; ĐKHKTT: Bản L, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 6/12; Con ông: Lò Văn T1 ( đã chết năm 2017) và bà Lò Thị Y (đã chết năm 1983); Có vợ: Lường Thị N, sinh năm 1972 và có 04 con, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 1997; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị bắt tạm giữ, giam từ ngày 02/10/2017 cho đến ngày xét xử; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa thì hành vi phạm tội của Lò Văn T được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ, ngày 02 tháng 10 năm 2017, Tại nhà ở của mình thuộc Bản L, xã M, huyện M, Tổ công tác Công an đồn Búng Lao, huyện Mường Ảng bắt quả tang Lò Văn T tàng trữ trái phép 01 gói bên trong có bột màu trắng nghi là Hêroin.

Tại Cơ quan điều tra, Lò Văn T khai nhận: Khoảng 16 giờ, ngày 01/10/2017, Lò Văn T từ nhà ở Bản L, xã M để đi xem ruộng. Khi đến khu vực đồi P thuộc bản N, xã M gặp một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên, tuổi, địa chỉ, T đã hỏi mua 01 gói hêrôin của người đàn ông dân tộc Mông với giá 250.000đ, khi mua được hêrôin T cất giấu vào túi áo ngực đang mặc và đi về nhà, còn người đàn ông đó đi đâu thì T không rõ. Về đến nhà T giấu gói hêrôin lên gác bếp và không cho ai biết. Khoảng 9 giờ ngày 02/10/2017 T lấy gói hêrôin ra dùng dao lam cắt ra một ít để sử dụng bằng hình thức đốt, hít, số còn lại T gói lại bằng mảnh giấy nilon mầu hồng và cất giấu trong túi quần bên phải đang mặc. Đến khoảng 10h50 cùng ngày thì bị tổ công tác Công an đồn Búng Lao phát hiện bắt quả tang. Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ 01 gói bên trong có bột màu trắng nghi là hêrôin.

Tại biên bản mở niêm phong xác định trọng lượng ngày 02/10/2017 thì 01 gói có trọng lượng là: 0,47gam.

Tại bản kết luận giám định số 03/GĐ – PC 54, ngày 16/10/2017 của cơ quan giám định kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên, kết luận: 0,47 gam là hêrôin: Loại hêrôin nằm trong danh mục các chất ma túy có số thứ tự: 20, danh mục I, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Cáo trạng số 60/QĐ – VKS – HS, ngày 17/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đã truy tố bị cáo Lò Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy " theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật đã áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng Khoản 1 Điều 194; Điểm p Khoản 1, khoản 2 điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, Khoản 3 Điều 7; Khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015; Nghị quyết 41/2016/QH14 ngày 20/6/2017 Xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 22 tháng tù đến 26 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự, Điểm a Khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu để tiêu hủy: 0,42g hêroin. Bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên miễn toàn bộ án phí hình sự cho bị cáo.

Lời nói sau cùng, Lò Văn T nhận phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trong quá trình điều tra, truy tố thấy rằng: Các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự nên trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến khiếu nại về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn T công nhận: Khoảng 16 giờ, ngày 01/10/2017, Lò Văn T tại khu vực đồi Phá Lén thuộc bản N, xã M, huyện Mường Ảng mua 01 gói hêroin của một người đàn ông dân tộc mông với giá 250.000đ, khi mua được heroin T đã sử dụng một ít bằng hình thức đốt hít, số hêrôin có trọng lượng là: 0,47g T để sử dụng thì bị Công an phát hiện bắt quả tang.

Xét lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các lời khai của bị cáo tại các bút lục từ số: 49 đến BL số: 58 có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với biên bản xác định trọng lượng ngày 02/10/2017 và kết luận giám định số 03/GĐ – PC 54, ngày 16/10/2017 của cơ quan giám định kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: 0,47 gam là hêrôin.

Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lò Văn T đã phạm tội“ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 194 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào những quy định của Nhà nước trong việc quản lý, sử dụng các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy cần xử lý nghiêm minh nhằm răn đe và phòng ngừa chung.

Xét tính chất mức độ phạm tội: Trọng lượng Hêrôin bị thu giữ là 0,47 gam nằm trong khoảng từ 0,1 gam đến dưới 5 gam với mục đích là để sử dụng: Tính chất tội phạm của bị cáo là nghiêm trọng và phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, theo khoản 1 Điều 194/BLHS năm 1999 có khung hình phạt từ 02 đến 07 năm tù.

Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở Khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại huyện Mường Ảng, Tỉnh Điện Biên được bố mẹ cho đi học đến lớp 6/12 ở nhà lao động sản xuất. Đến năm 1988 kết hôn với chị Lường Thị N và có với nhau 04 người con. Năm 2011 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng xử phạt 18 tháng tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản. Tháng 9/2012 ra trại trở về địa phương đến nay đã được xóa án tích. Do thiếu ý thức rèn luyện, tu dưỡng đạo đức để thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên đã bất chấp pháp luật, đi vào con đường phạm tội. Bản thân bị cáo là người nghiện chất ma túy nên có nhân thân không tốt; tuy nhiên, tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình. Nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS. Tại phiên tòa gia đình bị cáo cung cấp Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng nhì mang tên Lò Văn L là anh trai của bị cáo đây cũng là tình tiếp giảm nhẹ quy định tại Khoản 2 điều 46 BLHS. Bị cáo được xem xét để áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội quy định tại Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội, Hội đồng xét xử áp dụng các quy định có lợi và các tình tiết khác để quyết định hình phạt phù hợp đối với bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại điều 48 BLHS.

Theo khoản 5 Điều 194/BLHS quy định bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Song xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo không có khả năng thi hành, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về nguồn gốc số hêrôin bị thu giữ, bị cáo khai mua của một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên, địa chỉ ở đâu vào ngày 01/10/2017. Quá trình điều tra không có cơ sở để làm rõ đối tượng nên HĐXX không đặt vấn đề xem xét.

Về vật chứng: Hội đồng xét xử thấy rằng: 0,47 gam hêrôin (Trong đó có 0,05g gửi giám định không hoàn lại) còn lại 0,42 g heroin là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo Lò Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Nhưng bị cáo thuộc diện hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí nên miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T phạm tội: " Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Áp dụng: Khoản 1 Điều 194; Điểm p Khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; Khoản 3 Điều 7; Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt: Lò Văn T 22 (Hai hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02 tháng 10 năm 2017.

2. Vật chứng: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự, Điểm a Khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu để tiêu hủy: 0,42g hêrôin (Theo biên bản bàn giao vật chứng giữa Công an và Chi cục thi hành án ngày 20/11/2017).

3. Án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn T.

4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

212
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 06/2017/HSST ngày 30/11/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:06/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mường Ảng - Điện Biên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 30/11/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về