Bản án 06/2017/HNGĐ-ST ngày 14/09/2017 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ, TỈNH ĐĂK NÔNG

BẢN ÁN 06/2017/HNGĐ-ST NGÀY 14/09/2017 VỀ LY HÔN

Ngày 14 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Nô tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 40/2017/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2017, về việc:“Kiện xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 12/2017/QĐXX-ST ngày 11 tháng 8 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòasố 22/2017/QĐST-DS ngày 29 tháng 8 năm 2017, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bui Thi P, sinh năm 1998. Có mặt

Địa chỉ: Thôn Đ, thi trấn Đ, huyện K, tỉnh Đăk Nông.

- Bị đơn: anh Nguyên Văn L, sinh năm 1991. Vắng mặt. Địa chỉ: Thôn Đ, thi trấn Đ, huyện K, tỉnh Đăk Nông.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 08/6/2017 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyênđơn chị Bui Thi P trình bày: Chị P và anh Nguyên Văn L kết hôn vao ngày14/9/2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thi trấn Đ, huyên K, tỉnh Đăk

Nông; việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn được khoảng môt thang thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do hai bên không hòa hợp, không thống nhất được với nhau về vấn đề chi tiêu tiền bac, kinh tế gia đình, ngoài ra anh Long không lo lam ăn, hay mắng chửi Chị P. Ngay 10/5/2017, giưa hai bên xay ra cai va, xuc pham nhau, chị P đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ để ở cho đến nay, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở nên trầm trọng, Chị P không còn tình cảm yêu thương và không muốn tiếp tục chung sống với anh L. Vì vậy, chị P làm đơn khởi kiện xin ly hôn với anh L.

Về con chung: Quá trình chung sống chị P và anh L có 01 con chung, sinh ngày 13/8/2017, là nữ, hiện chưa đặt tên, chị P có nguyện vọng được nuôi con chung và không yêu cầu anh L phải chịu nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nơ chung: Chị P không yêu cầu giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Bị đơn anh Nguyên Văn L trình bày:

Anh L thưa nhân về quan hê hôn nhân, kết hôn đung như chi P đa trinh bay, về mâu thuẫn vợ chồng anh thừa nhận trong thời gian chung sống vợ chồng không có hạnh phúc, vợ chồng có mâu thuẫn về tiền bạc, luôn cãi cọ nhau, mặc dù vậy anh L không đồng y ly hôn, lý do tại thời điểm giải quyết, chi P đang mang thai tháng thứ 8 đa gần sinh.

Tại phiên tòa, Nguyên đơn chị Bùi Thị P giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin được ly hôn, đến thời điểm xét xử chị P đã sinh được một cháu gái vào ngày 13/8/2017, hiện chưa đặt tên, chị P có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu anh L phải chịu nghĩa vụ cấp dưỡng, chị P không có yêu cầu nào khác. Bị đơn anh Nguyễn Văn L mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, vì vậy việc Tòa án xét xử vắng mặt anh L là đúng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng từ khâu thụ lý đến trước khi mở phiên tòa; tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ các trình tự, thủ tục quy định; người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của pháp luật. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị P.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thẩm quyền giải quyết: Chị Bui Thi P khởi kiện ly hôn với anh Nguyên Văn L. Chị P yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ hôn nhân. Tại thời điểm chị P khởi kiện thì anh L có nơi cư trú tại thôn Đ, thi trấn Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông, giữa các đương sự không có sự thỏa thuận về Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện K, theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bui Thi P và anh Nguyên Văn L kết hôn trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngay 14/9/2016 tại Ủy ban nhân dân thi trấn Đ, huyên K, tỉnh Đắk Nông, đây là hôn nhân hợp pháp, kết hôn đúng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu ly hôn của chị Bui Thi P, thang 9/2016 chị P và an L kết hôn, tuy nhiên trong cuộc sống vợ chồng cả hai bên đều thừa nhận không có hạnh phúc, không thống nhất được về vấn đề kinh tế chung trong gia đình, hai bên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi cọ nhau, vào ngày 10/5/2017, sau khi xảy ra việc cãi chửi nhau, chi P đa về nha bố me đe sống cho đến nay, trong thời gian ở nhà bố mẹ đẻ chị P đã sinh con. Xét thấy quan hệ hôn nhân phải dựa trên tình cảm, tình yêu thương từ cả hai phía vợ, chồng, dựa trên sự bình đẳng, tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của nhau. Chị P và anh L không còn tình cảm yêu thương, hai bên đã sống ly thân từ tháng 5/2017, mâu thuẫn vợ chồng là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị P.

[3]. Về con chung: Ngay 13 tháng 8 năm 2017, chi P sinh được một cháu gái, hiện chưa đặt tên, chi P co nguyên vong đươc nuôi con chung va không yêu cầu anh L cấp dương nuôi con.

 [4]. Về tải sản chung, nợ chung: chi P, anh L không yêu cầu Toa an giai quyết.

 [5]. Về án phí: Chị Bui Thi P phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Bui Thi P, chị BuiThi P được ly hôn với anh Nguyên Văn L.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung sinh ngày 13/8/2017, hiện chưa đặt tên cho chi Bui Thi P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Chị P không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Chị P, anh L thực hiện các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con sau ly hôn theo các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, không aiđược cản trở.

3. Về tài sản và nợ chung :

3. Về án phí: Chị Bui Thi P phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng mà chị P đã nộp theo biên lai số0003546 ngày 13/6/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Nô.

Về quyền kháng cáo bản án: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.


76
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 06/2017/HNGĐ-ST ngày 14/09/2017 về ly hôn

Số hiệu:06/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Krông Nô - Đăk Nông
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:14/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về